Chân lý sẽ giải thoát anh em (Ga 8,32)

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

CÔNG ĐỒNG VATICAN II : SỰ THÁNH THIỆN KITÔ HỮU - THÀNH TỰU HAY LÊN ĐƯỜNG? HỒNG ÂN VÀ TRÁCH NHIỆM

Thời sự Thần học - Số 65, tháng 08/2014, tr. 93-122

Lm. Giuse Nguyễn Văn Am, S.D.B.

I. Sự đối nghịch giả tạo giữa Giáo hội thánh thiện và những tội lỗi của Kitô hữu
II. Những nét cốt lõi của sự thánh thiện Kitô hữu
III. Những hậu kết mục vụ về sự thánh thiện

Rất có thể khi nói về Vatican II, chúng ta sẽ nói nhiều đến những nét nổi bật như Giáo hội là Dân Thiên Chúa, tính tập thể của Giám mục đoàn, vai trò người giáo dân, Giáo hội mầu nhiệm và bí tích... Người ta đã nói nhiều đến chương trình aggiornamento của Gioan XXIII như thể đó là một chương trình cập nhật thần học, làm cho những suy tư thần học xứng tầm với con người thông minh của ngày hôm nay. Nhưng chúng ta quên mất rằng Gioan XXIII muốn nói tới một điều sâu xa hơn: sự thánh thiện. Sự cập nhật lớn lao và đáng mong ước hơn cả đối với Giáo hội chính là sự thánh thiện. Điều mà Giáo hội có thể cống hiến cho thế giới hôm nay hơn cả chính là sự thánh thiện. Vì thế, ta hiểu rằng Đức Gioan Phaolô II kêu mời Giáo hội nhấn mạnh hơn bao giờ hết sự thánh thiện trong ưu tư mục vụ của mình.[1] Nói mạnh mẽ hơn, khi nói đến những cách mạng trong suy tư thần học của Vatican II, chúng ta không được không cho thấy tính chất cách mạng trong suy tư ấy của Vatican về sự thánh thiện.[2] Nhất thiết Giáo hội phải hoạch định vươn đến sự thánh thiện, cần phải “huấn luyện” trên đường thánh thiện, cần phải hỏi sâu xa khi lãnh bí tích Thánh tẩy “anh chị em có muốn nên thánh không?”[3] Chính điều này mà bài viết này muốn nêu lên. Từ đó, chúng ta có được một bức tranh toàn vẹn về Vatican II hơn.

Tôi muốn trình bày những điểm sau: không có sự đối kháng giữa Giáo hội thánh thiện và tội lỗi của những người con cái trong Giáo hội. Từ đó, tôi muốn nhìn đến cốt lõi của sự thánh thiện Kitô giáo được Vatican II trình bày. Và lời mời gọi nên thánh của Vatican II trong hiện trạng hôm nay.

I. Sự đối nghịch giả tạo giữa Giáo hội thánh thiện và những tội lỗi của Kitô hữu


Khi nói đến Giáo hội thánh thiện, có lẽ thế giới sẽ bĩu môi khinh thị. Biết đâu ngay cả những người con của Giáo hội cũng không chấp nhận. Giáo hội dường như là mọi sự trừ thánh thiện. Hòn đá vấp phạm này thật to và sừng sững từ lâu đời rồi, như từng được mô tả trong Sách Đanien. Hồng Y Ratzinger khi còn là một thần học gia đã viết như sau:
Thành thực mà nói, chúng ta phải nhìn nhận rằng, Giáo hội chẳng thánh thiện mà cũng chẳng công giáo. Ngay công đồng Vatican II cũng đã đi đến kết luận : Giáo hội không chỉ thánh thiện mà còn tội lỗi.[4]
Lịch sử Giáo hội chất đầy những biến động và những dị dạng khủng khiếp mà Dante ví von rằng con điếm Babylon ngồi chễm chệ trên các nơi cao của Giáo hội. Không phải thánh Ambrôsiô đã từng gọi Giáo hội là cô điếm hay sao, dẫu là một cô điếm được thương xót! Về điểm này, hình như quan điểm của Luther có vẻ ‘hợp lý’ hơn. Giáo hội đầy những chướng tai gai mắt này đã xa lìa khỏi lối đường của Đức Kitô. Giáo hội không phải một mà là hai, một của các thánh nhân, và một của những kẻ tội lỗi. Giáo hội trần thế này chỉ toàn giả tạo, chứ làm gì mà có sự thánh thiện. Xem ra Vatican II không phê chuẩn điều này hay sao khi nói đến một Giáo hội đầy những tội nhân? Rồi, những chuyện được giữ kín biết bao lâu nay lại không chạm đến Giáo hội tận gốc rễ hay sao? Chính Timothy Radcliffe, trong bài thuyết trình, ghi nhận những khủng hoảng của nhiều Kitô hữu trước những lạm dụng tình dục.[5] Paul Tillich nói đến “một cơn địa chấn tận nền tảng” (Shaking the foundations). Đức Bênêđictô XVI đã chẳng từng nói rằng những cớ vấp phạm mà Giáo hội đang đối diện bôi nhọ Giáo hội khủng khiếp ngay cả trong những thập niên bị bách hại cũng chẳng làm được. Lúc này, hình như lời của Gandhi rất đúng: “Chúa Kitô ư? Chấp nhận; còn Giáo hội ư? Không.”

Giáo hội hình như luôn làm vỡ mộng những nhà đạo đức của thế gian:
Chẳng có lý thuyết hay lý lẽ nào có thể phi bác hoàn toàn những ý nghĩ như thế, và ngược lại, những ý nghĩ như vậy cũng không chỉ phát xuất từ lý trí, mà còn từ sự chua chát của con tim, chờ đợi thật nhiều nhưng rốt cuộc vỡ mộng, một trái tim bị tổn thương chỉ còn biết gặm nhấm nỗi thất vọng của mình. Chúng ta phải trả lời họ làm sao ?[6]
Có những Kitô hữu, trong đó có thể có cả bạn và tôi, trong một khoảnh khắc nào đó, đã chưng hửng và vỡ mộng vì một Giáo hội mà lại như thế. Thế nhưng, chúng ta chẳng thể nào ra khỏi thất vọng hay vỡ mộng bằng cách chạy trốn hay ngủ vùi trong chất men tưởng tượng hay nhân tạo. Chúng ta cũng chẳng chạy trốn bằng cách lập luận rằng giáo lý Giáo hội là như thế, song những con người Giáo hội lại không như thế. Kiểu lý luận đó chỉ ru ngủ được một ít người hời hợt mà thôi. Cũng như chỉ có thể tạo nên an bình giả tạo cho những tâm hồn duy vật theo kiểu duy tâm mà thôi. Không. Khủng hoảng đức tin chỉ được vượt thắng khi chúng ta đi vào trong sự mật thiết hơn với Đức Kitô, trở nên thật với chính mình và người khác, trở nên khiêm nhường hơn trước Đấng là chính sự khiêm nhường.[7] Thật vậy, chúng ta không thú tội từ một mặc cảm tội lỗi. Ủy ban Thần học Quốc tế cho thấy rằng sự thú tội của chúng ta (confessio peccati), dựa trên sự tuyên xưng đức tin (confessio fidei), trở thành lời tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa (confessio laudis).[8] Chỉ nhờ mối liên kết chặt chẽ này, Giáo hội lại được đưa vào một cách thức hiện hữu mới: một tội nhân được thương xót.[9]

Thật ra, Emil Brunner cảnh giác chúng ta quan niệm sự thánh thiện phượng tự duy khách thể (cultic objectivistic holiness) [một cách nào đó sống trong những người Công giáo] và sự thánh thiện luân lý duy chủ thể (moral subjectivistic holiness) [một cách nào đó sống trong anh chị em Tin lành]. Cả hai đều làm cho diện mạo Giáo hội nên méo mó. Sự thánh thiện của Giáo hội là một thực tại được tuyển chọn. Sự thật là chính Chúa Giêsu ở nơi Giáo hội và làm cho Giáo hội nên thánh, như dấu chỉ của sự thánh thiện yêu thương của Ngài. Các Giáo phụ diễn đạt rất hay trong châm ngôn cổ điển của Thần học: Ubi Christus, ibi ecclesia. Ratzinger nói lên điều này cách thuyết phục và sâu sắc:
Sự thánh thiện của Giáo hội hệ tại nơi quyền năng thánh hóa mà Thiên Chúa tác động trong Giáo hội, mặc cho mọi yếu đuối tội lỗi của con người. Ở đây chúng ta đụng tới nét đặc trưng của “Giao Ước mới” : Trong Đức Kitô, chính Thiên Chúa kết ước với con người, Ngài tự ràng buộc mình với họ. Giao ước mới không còn dựa trên việc cả hai bên phải tôn trọng cam kết, nhưng là hồng ân Thiên Chúa tặng ban, và hồng ân đó vẫn còn mãi bất chấp sự bất trung, bội ước của con người. Giao ước mới là dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không đầu hàng trước sự bất lực của con người, trái lại luôn tỏ lộ khuôn mặt bao dung từ ái, và cũng chính vì con người tội lỗi mà lại càng dủ tình đón nhận, càng thánh hóa, yêu thương.[10]
Chỗ khác, dựa trên Ep 5,25-26, Đức Bênêđictô XVI viết:
Giáo hội thánh thiện bởi vì Giáo hội đến từ Thiên Chúa là Đấng Thánh, Đấng trung thành với Giáo hội và không bỏ mặc Giáo hội cho quyền lực sự chết và sự dữ (x. Mt 16,18). Giáo hội thánh thiện bởi vì Đức Giêsu Kitô, Đấng Thánh của Thiên Chúa (x. Mc 1,24) kết hiệp bất khả phân ly với Giáo hội (x. Mt 28,20); Giáo hội thánh thiện bởi vì Giáo hội được hướng dẫn bởi Thánh Thần, Đấng thanh luyện, biến đổi và canh tân Giáo hội. Giáo hội không phải là thánh thiện bởi vì công nghiệp của chúng ta, nhưng bởi vì Thiên Chúa làm cho Giáo hội nên thánh thiện, hoa quả của Thánh Thần và những tăng phẩm (ân điển) của ngài. Không phải chúng ta làm cho Giáo hội thánh thiện. Chính Thiên Chúa trong tình yêu của Ngài làm Giáo hội thánh thiện.[11]
Đoạn văn cho ta thấy sự thánh thiện mà Giáo hội sống tiên vàn là tặng phẩm của Thiên Chúa nhân lành, yêu thương và trung tín. Không có thực tại này, sự thánh thiện chỉ là giả dối. Được đặt nền trên thực tại tuyệt đối này, sự thánh thiện của Giáo hội mang bộ mặt khác hẳn: sự thánh thiện của khiêm nhường chứ không phải của tự mãn và kiêu căng, của nhân hậu chứ không phải của kết án và thẩm phán, của can đảm trong kiên nhẫn chứ không phải của nhu nhược muốn làm vui lòng con người. Điều này, Đức Giêsu đã diễn đạt thật rõ trong biến cố Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ.

Dựa trên thực tại không lay chuyển đó, Ratzinger phân tích:
Chính nhờ Chúa đã hiến mình và không bao giờ rút lại nên Giáo hội mãi mãi được Người thánh hóa. Giáo hội là nơi mà sự thánh thiện của Chúa luôn hiện diện giữa loài người. Quả thật, sự thánh thiện của Chúa hiện diện trong Giáo hội, nhưng đó là do một tình yêu thật lạ lùng và không biết mệt mỏi, vẫn chọn những bàn tay nhơ uế của con người như chiếc bình chứa đựng sự thánh thiện của Người. Sự thánh thiện của Đức Kitô là như thế, một sự thánh thiện tỏa rạng ngay giữa bóng tối tội lỗi của Giáo hội. Đó cũng là nét nghịch lý của Giáo hội : điều chí thiêng chí thánh lại thường tỏ bày qua những bàn tay bất xứng. Trong Giáo hội, Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện dưới hình thái “bất chấp”, và đối với kẻ tin, hình thái “bất chấp” đó lại là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa mãi mãi lớn hơn. Sự giao thoa lạ lùng giữa sự trung tín của Thiên Chúa và sự bất trung của con người là nét đặc trưng của thực tại Giáo hội, và có thể nói đó cũng là hình thái hiện thực và sống động của ân sủng, bởi lẽ chính sự bất xứng tận căn của con người trong dòng lịch sử càng cho thấy ân sủng luôn hiện diện và tỏ lộ như là ơn tha thứ. Từ đó thậm chí ta có thể nói, chính vì cấu trúc nghịch lý vừa thánh thiện, vừa tội lỗi của Giáo hội, mà Giáo hội là hình tượng của ân sủng trong thế giới này.[12]
Vatican II chạm đến vấn đề này dưới một góc cạnh khác khi viết:
Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất, đã thiết lập và không ngừng nâng đỡ Giáo hội thánh thiện của Người nơi trần gian, một cộng đoàn đầy niềm tin, cậy, mến, như một cơ cấu hữu hình, nhờ đó Người thông truyền chân lý và ân sủng cho mọi người... tương tự như thế, Giáo hội yêu thương ôm ấp tất cả những ai đang sầu khổ trong thân phận khốn cùng của kiếp nhân sinh; hơn nữa, Giáo hội nhận ra nơi những kẻ nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập nghèo khó và khổ đau của mình, cố gắng làm giảm bớt nỗi khổ của họ và nỗ lực phục vụ Đức Kitô trong họ. Nhưng nếu Đức Kitô là Đấng “thánh thiện, vẹn toàn, không tì ố” (Dt 7,26), không hề phạm tội (x. 2 Cr 5,21), chỉ đến để đền tội cho dân (x. Dt 2,17), thì Giáo hội lại luôn có những tội nhân, vừa thánh thiện vừa luôn cần được thanh tẩy, nên không ngừng bước theo con đường sám hối và canh tân.[13]
Không bao giờ Vatican II mất đi tầm nhìn về sự thánh thiện tuyệt đối khởi từ và quy về Đức Kitô mà thôi. Sự thánh thiện của Giáo hội được ban tặng hơn là tự chiếm lấy, tự làm thành cho mình. Đức Kitô là nguyên lý và cùng đích của sự thánh thiện của Giáo hội. Nói theo ngôn ngữ của Kinh viện, Đức Kitô là nguyên nhân cứu cánh, nguyên nhân mô thể và nguyên nhân tác thành của sự thánh thiện của Giáo hội.[14] Ủy ban thần học quốc tế cho thấy phải phân biệt “sự thánh thiện của Giáo hội và sự thánh thiện trong Giáo hội”,[15] mà cái sau (sự thánh thiện trong Giáo hội) phải đi theo cái trước (sự thánh thiện của Giáo hội). Tài liệu ấy cũng trình bày Mẹ-Giáo hội “không thể không bị thương do tội lỗi của con cái hôm qua và ngày nay, khi tiếp tục luôn luôn yêu mến họ, tới độ làm cho mình chịu trách nhiệm trong mọi thời trước gánh nặng do tội lỗi của con cái mình gây nên.”[16]

Theo ánh sáng này, Giáo hội tiên vàn không phải là một thể chế, một cơ cấu cho bằng là một sự sống mới trong Đức Kitô. Trước khi Giáo hội là một communio sanctorum, thì Giáo hội là sự thông phần với Thần Khí của Đức Kitô và sự hiệp thông các sự thánh. Brunner cho rằng sự thánh thiện của Giáo hội “là như nhau vì là sở hữu của Đức Kitô và là bình chứa của Thánh Thần.”[17] Cho nên, dưới góc cạnh này, sự thánh thiện mang tính qui về Đức Giêsu Kitô trong Giáo hội liên kết chặt chẽ giữa chân lý và sự hiệp thông, vì Người là chân lý. Ở đâu có Đức Kitô, ở đó trồi hiện sự hiệp thông chân thật. Nếu sau này chúng ta nói đến khía cạnh xã hội trong sự thánh thiện Kitô hữu, vì Đức Kitô là sự thông ban chân thật chính mình của tình yêu Thiên Chúa. Cũng như chân lý của mặc khải không phải là chân lý trừu tượng của triết học, thì sự hiệp thông cũng không mang tính xã hội học suông.[18] Đức Phanxicô cùng một tầm nhìn như thế khi nhắc Giáo hội không phải là một thứ tổ chức NGO, phi chính phủ.

Khởi từ Đấng yêu mến chúng ta đến cùng, một Giáo hội thánh thiện song đầy dẫy tội nhân, xét cho cùng, lại mang đến an ủi và khích lệ hơn là đè bẹp, như Ratzinger nói thay cho chúng ta:
Thú thật đối với tôi, sự thánh thiện đầy vết nhơ của Giáo hội lại là niềm an ủi khôn cùng. Vì nếu phải đứng trước một sự thánh thiện tuyệt đối tinh tuyền, chỉ biết có tuyên án và luận phạt thì làm sao không khiếp hãi ?[19]
Timothy Radcliffe cũng viết cùng một đức tin khi đối diện với vấp phạm hay chướng kỳ khủng khiếp trong Giáo hội:
Tôi phải nói thật, giả như Giáo hội Công giáo rõ ràng tồi tệ hơn các giáo phái khác, thì tôi vẫn không rời bỏ Giáo hội. Tôi không phải là người Công giáo bởi vì Giáo hội của tôi là tuyệt nhất, hoặc giả bởi vì tôi yêu thích giáo lý Công giáo. [...] Tôi không phải là người Công giáo vì lý do giá cả và chất lượng theo kiểu chọn lựa giữa Walmart và Sears, nhưng bởi vì tôi tin Giáo hội thể hiện được ở nơi mình điều gì đó thiết yếu cho chứng tá Kitô giáo về sự Phục Sinh, điều đó chính là sự hiệp nhất hữu hình.[20]
Có những người nhìn Giáo hội như một món đồ tùy vào chọn lựa của họ y như trong một siêu thị. Một thái độ Giáo hội-siêu thị đang đánh mất đi điều quan trọng của Giáo hội-Tặng phẩm. Như thế, sự thánh thiện mà Giáo hội tuyên xưng không thể làm cho Giáo hội thành vị thẩm phán khắc nghiệt hay thành người khắc kỷ cay độc và châm biếm. Cả hai chẳng thể phản ánh vị Thiên Chúa có bộ mặt nhân loại.

Dẫu Giáo hội được thánh hiến một lần là đủ và Thiên Chúa không bao giờ hối hận vì đã chọn chúng ta, thì sự thánh thiện ấy không phải là một thực tại cố định. Ítraen đã được tuyển chọn cách dứt khoát mà lề luật không hủy đặc ân đó được; Ítraen đã được tác thánh và được ký kết giao ước dựa trên lời thề và lời hứa không thể lay chuyển của Thiên Chúa, song lại liên tục sa ngã trong sa mạc và lịch sử. Mỗi lần như vậy, Ítraen học để trở về cùng Thiên Chúa. Marcel trong homo viator nhận xét rằng thế giới sẽ ổn định trật tự nếu con người không quên đi phận lữ hành của họ cũng như tìm ra được mối liên hệ chặt chẽ giữa tình yêu và hy vọng.[21] Lịch sử Ítraen minh chứng cho nhận xét đó. Khi Ítraen, được cụ thể hóa nơi Đavít, an nghỉ trong sự ổn định, liền trở thành mồi ngon của sa ngã. Cám dỗ của Ítraen được định cư chính là quên mất phận du mục, lữ hành cùng với Giavê của họ. Lịch sử của Giáo hội cũng không phải luật trừ. Thánh Phaolô nói đến một Giáo hội tự hào đứng vững hãy ý tứ kẻo ngã. Vatican II khẳng định mạnh mẽ tính chất cánh chung, lữ hành của Giáo hội thánh thiện. Công đồng viết như sau:
Tiến bước qua các thử thách và bách hại, Giáo hội được kiện cường nhờ sức mạnh của ơn Chúa đã được hứa ban để, cho dù với xác thịt yếu hèn, Giáo hội vẫn không đánh mất sự trung tín hoàn toàn, nhưng vẫn luôn là Hiền Thê xứng đáng của Chúa, và không ngừng canh tân chính mình dưới tác động của Thánh Thần cho đến khi qua Thập giá đạt đến ánh sáng không hề tắt.[22]
Đoạn văn minh định một chân lý thật an ủi: chúng ta sống nhờ sự trung tín của Thiên Chúa. Thiên Chúa trung tín luôn nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta. “Sự giao thoa lạ lùng giữa sự trung tín của Thiên Chúa và sự bất trung của con người là nét đặc trưng của thực tại Giáo hội.”[23] Theo ý nghĩa đó mà lời Đức Giêsu nói cho người phụ nữ ngoại tình cũng được ngỏ với chúng ta: Hãy đứng dậy và đừng phạm tội nữa.

Nếu thế, sự thánh thiện của Giáo hội tiên vàn không nói về chính mình cho bằng nói về Thiên Chúa. Ratzinger viết:
Giáo hội là nơi mà sự thánh thiện của Chúa luôn hiện diện giữa loài người. Quả thật, sự thánh thiện của Chúa hiện diện trong Giáo hội, nhưng đó là do một tình yêu thật lạ lùng và không biết mệt mỏi, vẫn chọn những bàn tay nhơ uế của con người như chiếc bình chứa đựng sự thánh thiện của Người. Sự thánh thiện của Đức Kitô là như thế, một sự thánh thiện tỏa rạng ngay giữa bóng tối tội lỗi của Giáo hội.[24]
Rõ ràng lời phê bình chua cay về Giáo hội thánh thiện không nhận biết sự thật là chính nhờ “cấu trúc nghịch lý vừa thánh thiện, vừa tội lỗi của Giáo hội, mà Giáo hội là hình tượng của ân sủng trong thế giới này.”[25]

Vậy, sự thánh thiện Kitô giáo luôn qui chiếu đến khuôn mẫu duy nhất là Ngôi Lời Nhập Thể; nó mang nơi mình Đức Maria như hình ảnh lý tưởng về sự thánh thiện theo nghĩa sự kết hiệp tuyệt vời của Lời Thiên Chúa và nhân loại.[26] Nơi cả hai nhân vật này, chúng ta không bắt gặp một chia tách hay lẫn lộn giữa thiêng và tục mà Brunner viết như sau: “Đây là nghịch lý của sự thánh thiện chân thật. Nó là một thứ siêu nhiên tròn đầy và một nhân tính chân thực. Nói cách khác, nó là một sự siêu nhiên của Thiên Chúa yêu thương và thánh thiện.”[27] Vatican II khẳng định rất rõ Giáo hội có thể và phải tìm ra được giá trị đích thực, nói khác đi, sự thánh thiện trong một tiến trình tục hóa chân chính của thế giới tạo vật như được Đấng Sáng Tạo đặt định. Chủ thuyết tục hóa (duy tục) và tiến trình tục hóa chân chính là hai điều khác nhau thật sự như nước và lửa. Như vậy, nguy hiểm đe dọa sự thánh thiện của Giáo hội chính là sự tách chia đức tin và cuộc sống. Công đồng nói rõ: “Sự phân cách giữa đức tin được tuyên xưng và cuộc sống thường ngày của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta.”[28] Và Công đồng gọi đó là cuộc phân cách giả tạo, hoàn toàn sai lệch với sự thánh thiện của một Thiên Chúa yêu mến con người đến độ thành một người anh em của họ. Không bị lẫn lộn với thế gian, sự thánh thiện Kitô hữu làm cho các môn đệ của Đức Kitô trở thành “linh hồn của trần thế.”[29]

Sự thánh thiện của Kitô hữu như thế không phải là một câu trả lời làm sẵn. Dẫu Đức Kitô vẫn là một, hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời, thì không có nghĩa rằng Đức Kitô đến trần gian với cả một lô những giải đáp làm sẵn cho những vấn đề của con người. Ngài chẳng cần phải suy tư và lớn lên làm chi. Không phải thế. Tin Mừng ghi nhận: Ngài đã phải chịu qui luật nhân loại là tăng trưởng cả thể lý lẫn ơn sủng, phải mang lấy âu lo, phải tìm hiểu những con người chung quanh. Cũng thế, dẫu Giáo hội được hứa ban sự vững bền mà Satan không thể hủy diệt, thì điều ấy không có nghĩa là các giáo hội địa phương sẽ tự động vươn lên. Thật thế, sự thánh thiện của Giáo hội không bao giờ là một thực tại chết, khô khẳng, làm sẵn. Công đồng thú nhận: “Giáo hội, tuy đang quản thủ kho tàng lời Chúa để từ đó rút ra những nguyên tắc luân lý và tôn giáo, nhưng không phải lúc nào cũng có ngay câu trả lời cho từng vấn đề.”[30] Giáo hội lữ hành gắn chặt không chia tách với lịch sử nhân loại cũng phải và thiết yếu là Giáo hội gắn liền với ưu tư, vui buồn, mong chờ của con người vốn luôn thay đổi. Sự thánh thiện của Giáo hội lữ hành đi liền với việc đọc dấu chỉ thời đại. Đó không phải là cách tiến bước của kẻ đã được hưởng kiến, nhưng của người khát mong và tỉnh thức. Tiếng chân của Thần Khí vang lên rất nhẹ mà chỉ Hiền thê thao thức mới nhận ra được (x. Dc 2,8-3,4; 5,2-8).

Bằng cách đó, sự thánh thiện Kitô hữu đi liền với một trách vụ. Người Kitô hữu có trách nhiệm đối với sự thánh thiện được ban tặng. Công đồng viết: “Tuỳ theo ân huệ và phận vụ riêng của mình, mỗi người phải nhất quyết tiến tới trên đường đức tin sống động, một đức tin khơi dậy đức cậy và hoạt động nhờ đức ái.”[31] Rõ ràng sự thánh thiện Kitô hữu không thể có được mà không có một ý chí, một quyết tâm, một chọn lựa triệt để, tận căn. Mà như thế là trách vụ của từng người. “Vì thế, với ơn Chúa, họ phải tiếp tục giữ gìn và hoàn thành trong đời mình sự thánh hoá mà họ đã lãnh nhận.”[32]

Đoạn văn cho ta hiểu rằng sự thánh thiện có một góc cạnh là hồng ân, song cũng đi liền với một góc cạnh khác là trách vụ, trách nhiệm. Những ai nhận được hồng ân sự thánh thiện thì cũng lấy trách nhiệm để phát triển nó không ngừng. Sự thánh thiện của Giáo hội mang hai bộ mặt rõ rệt: Tặng phẩm và Trách vụ; và đạt đến sự thánh thiện đúng là một hồng ân đáng ao ước nhất. Bởi lẽ, không đạt được ơn cứu độ, sinh ra ở đời nào có ích chi. Văn sĩ Leon Bloy người Pháp vào lúc cuối đời nói rằng: “Có một nỗi buồn duy nhất trong cuộc đời, nỗi buồn là không phải vị thánh.” Cậu thánh trẻ Savio cũng thốt lên cuộc đời cậu chẳng là gì nếu không trở nên thánh.

II. Những nét cốt lõi của sự thánh thiện Kitô hữu


Đến lúc này, chúng ta buộc phải hỏi đâu là cốt lõi của sự thánh thiện mà Vatican trình bày cho chúng ta hôm nay?

1. Ở trên, chúng ta đã nói một sự thánh thiện Kitô hữu tiên vàn không thuộc về phạm trù luân lý hay phượng tự có tính chất duy khách thể. Nó không hệ tại ở sự mỉa mai, chua chát hay là sự dửng dưng, bất cần. Trái lại, ngay trong Ítraen, sự thánh thiện của những nhân vật như Ápraham, Môsê, Đavít, Giêrêmia, v.v. đều đạt đến tình mật thiết với một Thiên Chúa ngã vị, chứ không phải một thần minh vô ngã, trừu tượng nào đó. Cũng thế, sự thánh thiện Kitô hữu trên hết bắt nguồn và qui chiếu về một Đấng Thánh, được định nghĩa là “chậm bất bình và rất mực xót thương.” Sự thánh thiện của Kitô giáo liên quan đến Đấng có tên gọi là Thiên Chúa của Ápraham, Isaác và Giacóp, Thiên Chúa Cha của Đức Giêsu, Thiên Chúa của kẻ sống; có tên gọi là Giêsu Kitô làng Nadarét, người thợ mộc hoàn hảo; có tên gọi là Thần Khí của Đấng phục sinh kẻ chết. Sự thánh thiện Kitô hữu dứt khoát và tuyệt đối thuộc phạm trù ngôi vị. Có ích lợi gì nếu đạt được mọi sự toàn hảo mà không có Đức Kitô. Thánh Phaolô đã hiểu rõ hơn ai hết khi xác quyết những gì toàn hảo trước kia của ngài so với mối lợi là được biết Đức Kitô chỉ là rơm rác và phân bón. Phaolô học để chỉ tìm sự thánh thiện của Đức Kitô, chứ không phải sự thánh thiện của riêng mình.

Đây là nét đặc trưng cốt yếu mà thế gian không lãnh hội được. Công đồng Vatican II quả quyết:
Chúa là cùng đích của lịch sử nhân loại, là điểm quy tụ mọi ước vọng của lịch sử và văn minh, là trung tâm của nhân loại, là niềm vui của tâm hồn và là sự viên mãn của mọi niềm khao khát (x. Phaolô VI, Huấn từ 3/2/1965: L'Osservatore Romano, 4/2/1965). Chính Người là Đấng Chúa Cha đã làm cho sống lại từ cõi chết, đã tôn vinh và cho ngự bên hữu, đặt làm thẩm phán kẻ sống và kẻ chết. Được tác sinh và quy tụ trong Thần Khí của Người, chúng ta đang tiến bước trong cuộc hành trình hướng về chung cục lịch sử nhân loại, một chung cục phù hợp với ý định yêu thương của Người: “thâu kết trong Chúa Kitô muôn loài trên trời dưới đất” (Ep 1,10).[33]
Chính Chúa đã nói: “Đây chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến, và Ta đem theo lương bổng để trả cho mỗi người tuỳ theo việc họ đã làm. Ta là Anpha và Ômêga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Cùng Tận” (Kh 22,12-13). Vì thế mà thánh Gioan nói đến “hãy ở lại trong Thầy.”

Rõ ràng, sự thánh thiện Kitô giáo luôn mang đặc tính ngôi vị, từ khởi thủy cho đến tận cùng. Ích lợi gì cho một Giáo hội tỏ bày một sự thánh thiện không Đức Kitô.

2. Chính từ điểm cốt tủy đó, sự thánh thiện Kitô giáo không thể không gắn bó với tình yêu. Công đồng không ngần ngại gọi nó là sự hoàn hảo của đức ái. Theo Kitô giáo, càng yêu mến càng thánh thiện, và càng thánh thiện càng yêu mến. Chúng ta sẽ bị phán xét bởi tình yêu. Chính Chúa Giêsu kết luận ở trình thuật rửa chân noi gương Thày mà làm thế đối với anh chị em của mình. Và chỉ trong tình yêu, chúng ta mới được đong cho đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn đổ vào vạt áo chúng ta. Điều này mang lại một định nghĩa mới và chính xác cho đời tu: theo sát Đức Kitô hơn. Sự thánh thiện của gia đình Kitô hữu hệ tại ở “bước đi theo Chúa Kitô là nguyên lý sự sống giữa bao niềm vui cũng như hy sinh trong ơn gọi và luôn sống trong một tình yêu chung thủy, họ trở nên chứng nhân của mầu nhiệm tình thương mà Chúa đã tỏ ra cho thế giới qua sự chết và sống lại của Người.”[34] Theo ý nghĩa này, xác quyết “tình yêu, chứ không phải đau khổ làm nên vị tử đạo” mang lại sự cách mạng cho thần học thiêng liêng, chẳng qua phản ánh chính xác và chân thật lõi tủy của Đức Kitô chịu khổ hình thập giá. Ngài yêu mến đến độ “chết và chết trên thập giá”. “Không ai có tình yêu cao cả hơn người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Xác quyết trên cho thấy các thánh của Giáo hội luôn diễn đạt tình yêu của mình một cách sững sờ cho mọi người nhìn thấy các ngài.

Dostoievsky đã trực giác được chiều sâu xa này khi trình bày hai diện mạo của hai vị ẩn sĩ trong tác phẩm anh em nhà Karamazov: một người mang bộ mặt héo hon, chua cay khi không thể nhìn ra được sự tốt lành trong những kẻ tội lỗi chung quanh. Còn người kia trái lại, xem ra bên ngoài không mấy kỷ luật và ít khắc khổ, nhưng lại trải rộng niềm vui, sự thanh thản, cảm thông vì ông có thể đọc được ở mọi người từng chút cố gắng để sống tốt lành. Ông được sinh động bởi tình yêu hơn là sự hoàn hảo của các luật lệ được giữ đến từng chi tiết.

Thiên Chúa là lửa nóng. Lửa vừa thanh luyện, vừa làm cho nóng. Do đó, sự thánh thiện như tình yêu trong Kitô giáo có nét đặc trưng này. Chẳng lạ gì mà “đức tin và lời hứa tương ứng với nhau” (fides et promissio sunt correlativa). [...] lời hứa của Thiên Chúa truyền vào niềm hy vọng. Đức tin tiên vàn không phải là về những chân lý được Thiên Chúa mạc khải và được Giáo hội diễn tả chính xác hầu thỏa mãn tâm trí tìm tòi, nhưng là một sự trung tín đối với Thiên Chúa trung thành, Đấng đã hứa là sẽ cứu độ.”[35]

Chính vì thế, sự thánh thiện của Kitô hữu hệ tại ở “lòng trung tín với giao ước tình yêu là nguồn mạch của kiến thức, một kiến thức có tính chất cứu độ. Bởi lẽ, điều khai sinh ra hiểu biết là cuộc gặp gỡ với Đấng là Tình yêu và ơn cứu độ của chúng ta.”[36] Sự thánh thiện Kitô hữu là sự hiểu biết khai sinh từ gặp gỡ! Thiên Chúa canh tân trái đất theo vương quốc Nước Trời bằng cách làm cho chính mình thành kẻ nghèo tự nguyện để săn sóc những kẻ nghèo hèn của Thiên Chúa. Thiên Chúa vốn giàu có vô song đã trở thành nghèo để chúng ta nên giàu có nhờ cái nghèo của Ngài (x. 2Cr 8,9). Và chính điều đó, Ngài cũng khắc ghi vào cộng đoàn của Ngài. Đức Giêsu cũng đòi hỏi cộng đoàn các môn đệ của Ngài phải tự nguyện nghèo khó để chăm sóc những kẻ nghèo của Thiên Chúa.[37] Đây đúng là chuẩn mực để chúng ta đo lường sự thánh thiện đích thực. Chúng ta không được phép lãng mạn hóa người nghèo cũng như lãng mạn hóa hình ảnh Đức Giêsu phục vụ người nghèo. Pieris nêu rõ “sự kiện vẫn còn đấy là Thiên Chúa chọn họ làm những người đối tác trong Giao ước, không phải bởi vì họ thánh thiện, nhưng bởi vì họ nghèo. Nghèo, không có quyền lực và bị chống đối là tội lỗi và bất xứng, chính là tiêu chuẩn để Thiên Chúa tuyển chọn họ!” Sự thánh thiện Kitô hữu không thể có mà không liên kết chặt chẽ với tình yêu dành cho Đức Kitô như giao ước vĩnh cửu và mới mẻ của Thiên Chúa với người nghèo. Một tri thức về Đức Kitô không rực sáng với sự nồng nhiệt của Agape mắc phải một nguyên tội trong Kitô học: “Kitô học không có cứu độ học.”[38] Sự khác biệt của một thứ ngộ đạo sai lạc (gnosis) và sự hiểu biết đích thực về Đức Kitô được những người con từng gây ngạc nhiên của Giáo hội từ sơ khai cho đến hôm nay: từ Inhaxiô thành Antiôkia đến phó tế Laurenxô, từ Phanxicô Átsidi đến Charles de Foucauld, từ Dorothy Day đến Gioan Phaolô II. Không phải sự hoàn hảo của một bộ luật cũng chẳng phải sự hoàn hảo của thể chế chính trị cho bằng là sự hoàn hảo của tình yêu mang đến hy vọng mới cho những con người nghèo. Nơi thân xác tơi tả của Đức Kitô,[39] chúng ta hiểu rõ thế nào là tình yêu nóng bỏng của Kitô giáo: sự hòa điệu tuyệt vời giữa eros và agape mà chỉ có thể đạt được nhờ Đấng yêu mến chúng ta quá đỗi, Đấng yêu mến chúng ta đến cùng.[40]

3. Từ đó, Vatican II cho thấy không một sự thánh thiện Kitô giáo đích thực nào mà không làm cho xã hội thêm nhân bản. Hơn khi nào hết, Công đồng cho thấy “con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ”,[41] và “nhân vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội”.[42] Vì thế, tất cả đều nhằm đến sự thiện hảo của con người.[43] Công đồng mạnh mẽ công bố “các thành đạt của nhân loại là dấu chỉ biểu hiện sự cao cả của Thiên Chúa.”[44] Sứ điệp Kitô giáo không hề kéo con người ra khỏi công cuộc xây dựng thế giới, cũng không làm cho họ mất đi sự quan tâm đến lợi ích của đồng loại, nhưng trái lại, thúc bách họ hơn nữa về bổn phận phải thực hiện những điều ấy.[45] Sự thánh thiện Kitô giáo mà Công đồng khởi lên mang đặc nét nhân bản. Sự thánh thiện phải làm cho bộ mặt xã hội thêm nhân bản, thêm dễ sống, thêm hân hoan. Đây không phải là sự thánh thiện mà mỗi người sẽ giữ chặt cho chính mình. Trái lại, những người thánh thiện theo Công đồng mang đến cho nhân loại, cho những con người cụ thể trong xã hội, niềm an ủi, niềm vui sống...

Pieris suy tư điều này dưới một diện khác: Kitô học giao ước. Ông viết như sau:
Phần đa những người nghèo được Thiên Chúa mời gọi để nên những người đối tác trong Giao ước của Ngài theo dự phóng là sự giải phóng lại không phải là những người Kitô hữu! Phạm trù đầu tiên (những nạn nhân của Mammon, những người biểu thị Đức Kitô “như chúng ta biết Ngài bây giờ”) tạo thành phần chính của dân số thế giới mà phần đa lại tập trung ở một châu Á không phải Kitô giáo. Được bao gồm trong phạm trù thứ hai (những người khước từ Mammon, những người theo Đức Giêsu “như Ngài đã sống trong những ngày ở trong thân xác”) là những người đồng tác nhân của sự giải phóng, những người hướng đạo trên con đường chính trực, những người khám phá và loan báo Chân Lý cứu độ, những người sáng lập và cổ võ những tôn giáo khác. Những người này không phải là những đối thủ trong cuộc cải hóa chủng tộc nhưng là những người đối tác (chia sẻ) trong một sứ mệnh chung. Đức Giêsu, nơi Ngài Thiên Chúa Ba Ngôi được giao ước với người nghèo, cần họ cộng tác để cùng với họ đạt tới tư cách Kitô (Christhood) cách hoàn hảo. Đức Giêsu không thể là Đức Kitô mà không có họ![46]
Và sự thánh thiện Kitô hữu không thể không mang đặc tính nhân bản là vì vậy. Thánh Phanxicô Salê diễn đạt điều ấy theo một cách nói vòng, quy tâm rất hay như sau: “Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ. Tinh thần là sự hoàn thiện của con người; và đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu.”[47] Một khoa nhân học tuyệt điệu! Một sự thánh thiện nhân bản tuyệt vời! Như thế, một vị mục tử, chủng sinh, tu sĩ tử tế, nhã nhặn, kính trọng,.. không giảm bớt chút nào sự thánh thiện của họ cả. Trái lại, người mục tử chua cay, thiếu kính trọng dân chúng, không nhã nhặn... sẽ không thể bộc lộ sự thánh thiện Kitô hữu được, dù có thể giảng nhiều về đức ái và sự thánh thiện!

Sự thánh thiện Kitô hữu không phải là một sự chà đạp lên những gì tốt lành của con người. Ta ghi nhận rằng Công đồng xác định “sự độc lập của các thực tại trần thế” và “con người có thể và phải yêu mến chính các tạo vật do Thiên Chúa dựng nên.” Như thế, Công đồng tuyên bố có một thứ trần thế tính đích thực, phù hợp với ý định của Thiên Chúa và có thể là nơi Thiên Chúa hẹn gặp chúng ta.[48] Trái lại, sự thất bại để phụng sự Thiên Chúa giữa những thực tại hằng ngày dẫn đến mối nguy hiểm cho phần rỗi đời đời của tín hữu. Đức tin và đức mến của họ nhập thể trong những điều nhỏ bé, nhiều khi đơn điệu, của đời sống hằng ngày. Nói cách khác, Công đồng xác định một lối thiêng của đời sống hằng ngày như con đường ‘ắt có và đủ’ vững chắc để đạt tới sự thánh thiện đích thực. Đức cậy vào Vương quốc Thiên Chúa “phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này... phải nhìn nhận rằng những tiến bộ này cũng có giá trị đối với Nước Thiên Chúa trong mức độ chúng có thể góp phần vào việc tổ chức xã hội loài người cho tốt đẹp hơn.”[49] Với nhiều xác quyết khác, chúng ta phải kết luận rằng đối với công đồng Vatican II, sự thánh thiện và sự thăng tiến nhân bản đích thực tương quan tỷ lệ thuận càng thánh thiện càng nhân bản, và càng nhân bản càng tỏ lộ được sự đáng yêu và vẻ đẹp của sự thánh thiện Kitô hữu. Thiếu vắng góc cạnh này, sẽ là vẻ dị dạng của Kitô giáo. Một Kitô giáo không nhân bản, vui tươi và lành mạnh đúng là sự đáng thương của Kitô giáo vậy.[50]

4. Nếu thế, sự thánh thiện được Vatican II nêu bật, luôn mang yếu tố lịch sử, đúng hơn mang yếu tố bối cảnh. Với Vatican II, có thể nói, không có một sự thánh thiện đồng phục hay đồng bộ. “Đúng vậy, do sứ mạng và bản chất của mình, Giáo hội không gắn liền với một hình thức văn hóa nhân loại cá biệt nào, hoặc một thể chế chính trị, kinh tế hay xã hội nào.”[51] Vậy, tính đồng bộ trong sự thánh thiện, có thể nói, hủy đi tính sáng tạo của Thần Khí Thiên Chúa. Thomas Merton nói về điều này rất thuyết phục: một sự thánh thiện hoàn toàn giống nhau của hai vị thánh là sự “xúc phạm” đến Thần Khí Thiên Chúa. Một cây với những nhánh rễ vươn vào lòng đất theo một cách thức chẳng giống với bất cứ rễ cây nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn là một rễ cây vươn vào lòng đất giống với một rễ cây khác. Đức Phanxicô mới đây cũng nói đến sự thánh thiện với nhiều bộ mặt. Chính vì thế, bắt chước các thánh không phải là lập lại những việc các ngài làm, cho bằng tìm ra và sống lại cách thức và tại sao các ngài làm những việc đó. Nhờ đó, chúng ta hôm nay buộc phải lượng giá lại những công cuộc mà có thể đã kéo dài hằng bao thế kỷ, để nếu cần, bỏ chúng đi, hay sáng tạo những công cuộc mới. Theo lối nhìn này, công đồng Vatican II nói đến một sự thánh thiện được liên đới với những ưu tư, hy vọng, đau buồn, u sầu, niềm vui của những con người. Kitô hữu thánh thiện nhất thiết phải tìm cách đọc những dấu chỉ thời đại. Giáo hội thánh thiện buộc phải được “xét như một thực thể đang hiện diện trong thế giới, đang cùng sống và cùng hoạt động với thế giới ấy.”[52] Không thể có một sự thánh thiện Kitô hữu trốn tránh lịch sử cụ thể của mình.

Có thể xác quyết trên khiến chúng ta khó chịu. Nhưng quả thực, “là một đoàn thể hữu hình và là cộng đoàn thiêng liêng, Giáo hội đồng hành với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ thân phận trần thế với thế giới; Giáo hội như men và linh hồn của xã hội loài người, một xã hội phải được đổi mới trong Chúa Kitô và trở nên gia đình của Thiên Chúa.”[53] Theo ánh sáng này, sự thánh thiện Kitô hữu không bao giờ đi với đôi với “sự than khóc thời số mình.” Phải hơn, sự thánh thiện Kitô hữu cho phép chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa vẫn luôn làm việc theo dự định và kế hoạch của mình, cho phép ta nhận ra, trong tất cả sức mạnh của sự khiêm nhường, tin tưởng và phó thác, rằng Thiên Chúa rất tin tưởng chúng ta khi sai chúng ta đến hoàn cảnh và lịch sử hôm nay. Ngài như thể nói rằng chính chúng ta mới có thể làm cho hoàn cảnh cụ thể này trở nên tốt đẹp hơn theo ý của ngài. Ngày trước, ngài đã gởi một Đaminh, một Phansinh, một Gioan Bosco để làm cho bộ mặt thời đại đó thêm nhân bản, thì hôm nay, ngài cũng gởi chúng ta đến. Cám dỗ lớn của chúng ta là chỉ muốn trở nên thánh nửa vời, trở nên chủng sinh, tu sĩ, linh mục và cả giám mục nửa vời mà thôi.[54] Sự nửa vời đó chẳng đem lại gì cả và chỉ trình bày một người môn đệ dị dạng của Đức Kitô mà thôi: Anh em không thể làm tôi hai chủ được. (x. Mt 6,24; Lc 16,13) Anh em không thể vừa là muối, vừa mất vị mặn! (x. Lc 14,34; Mt 5,13)

III. Những hậu kết mục vụ về sự thánh thiện


Đến đây, tôi xin nêu ra hai hậu kết mục vụ quan trọng :

1. Rất lâu trước, khi còn nhỏ, trong một lúc cao hứng, tôi đã đọc được cuốn Nhật ký một tâm hồn, và rồi tôi tìm cách lặp lại những hành vi của Đức Gioan XXIII mà chẳng hiểu động cơ tại sao ngài làm thế cũng như cách thức ngài làm thế. Và rồi chẳng mấy chốc, tôi thấy mình không thể làm được, bởi lẽ một lý do đơn giản rằng tôi không phải là ngài, tôi chẳng có khuôn mặt và tính tình của người Ý như ngài. Chính lúc đó, tôi nhận ra rằng hãy trở nên chính mình, theo dự định Thiên Chúa muốn cho cuộc đời mình, đó sẽ làm vinh danh Chúa hơn cả.

Như vậy, điều hệ trọng: không phải là sự thánh thiện mà ta muốn, song là sự thánh thiện mà Chúa muốn cho ta. Đấy chính là ý nghĩa sâu xa của câu nói: mỗi vị thánh là dấu chỉ và người mang tình yêu của Thiên Chúa cho những người Chúa gởi chúng ta đến. Mỗi vị thánh [mỗi môn đệ đích thực của Chúa Kitô] là một thứ ‘bí tích’ của Đức Kitô cho thời đại của họ. Đó là chiều sâu mà định nghĩa “Giáo hội là bí tích” mang lại.[55]

Nhưng cũng chính từ đây, chúng ta cần phải khôi phục lại sự thánh thiện Kitô hữu hoàn toàn mang tính chất vâng phục. Chúng ta, thế hệ hôm nay, dường như rất dị ứng với từ ngữ vâng phục, với những tiêu chuẩn được Freud, Nietzsche, Marx và Sartre nêu bật. Thế nhưng, sự thánh thiện Kitô hữu sẽ biến thành zerô, nếu không đặt nền trên vâng phục. Nếu Đức Kitô đúng là nguồn mạch, mục đích và khuôn mẫu chân chính của sự thánh thiện Kitô hữu, thì đi tìm một sự thánh thiện không đặt trên vâng phục, quả là xây nhà trên cát. Sẽ không thể trở thành một người hoàn hảo, một con người mới, theo gương Đức Kitô,[56] mà vâng phục được coi là nhân đức của kẻ yếu nhược, của phi nhân bản. Đó chỉ là lối lý luận giả tạo của thế gian mà thôi (x. 1Cr 1-2). Sự vâng phục của Người Con là cách làm người đích thực.[57]

2. Thiên đàng đã bắt đầu ngay bây giờ. Trong Gaudium et spes, Công đồng nói đến một lối thay đổi suy nghĩ của con người hôm nay từ tình trạng tĩnh sang trạng thái động. Nếu đó là đúng, thì chúng ta cũng phải buộc trình bày sự thánh thiện Kitô hữu theo trạng thái động. Đức cậy nói cho chúng ta rằng Nước Thiên Chúa đã bắt đầu ngay từ hôm nay rồi, với sự hiện diện dứt khoát của Đức Kitô. Công đồng viết:
Sứ điệp Tin Mừng của Chúa Kitô không ngừng đổi mới cuộc sống và văn hoá của loài người sa ngã, chống lại và khử trừ các sai lầm và sự ác phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên đầy nguy hiểm của tội lỗi. Tin Mừng không ngừng thanh luyện và nâng cao phong hoá các dân tộc. Với nguồn thiên ân sung mãn, Tin Mừng tác động từ bên trong làm cho những đức tính và nét đẹp cao quý nơi tâm hồn các dân tộc hay của từng thời đại được thêm phong phú, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô. Như thế, trong khi chu toàn sứ mệnh riêng của mình, Giáo hội thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hoá nhân loại, đồng thời cũng dùng mọi hoạt động, cả trong lãnh vực phụng vụ, để hướng dẫn con người đạt tới tự do nội tâm.[58]
Đoạn văn nói về một thực tại đặc thù là văn hóa, một lãnh vực tuyệt đối liên quan đến con người. Vì thế, đoạn văn cho thấy rõ sự thánh thiện mang tính cánh chung của Giáo hội điều hướng toàn bộ hướng đi của Kitô hữu. Cái tương lai của Nước Thiên Chúa đã ẩn hiện trong cái hôm nay của cuộc sống đức tin rồi. Thiên đàng đã có mặt trong hiện tại. “Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa trở lại.”[59] Vì thế, một chút thiên đàng ta cảm nhận đủ cho ta đánh giá lại thế gian và những gì thuộc về nó.

Bằng cách này, đức tin cho phép chúng ta luôn nhìn ra được sự “không yên” của những con người trên đường tìm kiếm Thiên Chúa. Sự thánh thiện Kitô hữu không cho phép chúng ta bi quan là thế.

Kết luận


Trước tiên, cho phép tôi mời gọi mọi người có một tầm nhìn rộng lớn và lạc quan, hy vọng hơn là bi quan và ảm đạm về sự thánh thiện trong Giáo hội. Và điều ấy rất đúng ý Công đồng:

“Nên như những vì sao trên trời, các thánh sẽ tỏa sáng như bầu trời sáng trong.”

Như những vì sao trên trời
với mắt phàm, họ là vạn người
nhưng trước kính viễn vọng nhìn được những thiên thể không hào quang,
các thánh nhân quả hằng hà vô số, không tài nào đếm nổi.
[Khác nào] những núi lửa sôi động
họ như những lỗ nhỏ để nhìn vào ngọn lửa Ba Ngôi nhiệm mầu.
[Họ giống như] những câu chuyện thám hiểm
được Thánh Thần viết lên
trong đó ngạc nhiên là chuẩn mực.
[Cầm bằng như] muôn vẻ diễn đạt theo những hình thức văn chương đa dạng
song lại luôn hấp dẫn:
từ phong thái bi kịch đến hương vị ngụ ngôn.
[Khác chi] những tác phẩm cổ điển theo ngữ pháp là các mối phúc
luôn có sức thuyết phục
vì họ sống vui tươi hạnh phúc.
[Thật như] những nhà du hành vũ trụ trong không gian
chúng ta mắc nợ họ những khám phá gây ngạc nhiên nhất
mà chỉ dành cho ai tách ra khỏi mặt đất.
Hệt như những thiên tài là thế,
Họ như người khổng lồ khác chúng ta
song lại được tạo thành từ cùng một vật liệu như chúng ta.
Có thể lầm lỡ và thất bại
nhưng họ luôn là người ngoại lệ:
không phải để bị đánh giá thấp bằng lời bào chữa
Vốn làm họ thành kẻ đồng trang đồng lứa của chúng ta.
Họ diễn đạt Thiên Chúa hoàn toàn cho không
luôn làm [họ] thêm giàu và nâng [họ] lên cao
theo tiêu chuẩn nhiệm mầu: Ngài là cả sự hào phóng.
Họ sống trong an bình vững chãi
giữa những đối kháng nhân sinh thường lệ,
song chẳng hề tự tại vì luôn gắng sức vươn cao.
Xoay vần quanh điều cốt yếu
họ đúng là ngôn sứ của Đấng Cao Tôn.
Khác nào những nghệ nhân vĩ đại
trong lò luyện của Đấng Tuyệt Mỹ
trước Ngài ôi lòng người say ngất.
Là những người thành toàn, bất kể nam hay nữ
họ làm chứng sự hài hòa nhiệm lạ
giữa bản tính và ân sủng.
Khác nào người điên của Thiên Chúa
yêu thương quá mãnh liệt
đến nỗi thốt ra những cách điệu đảo lộn.
Họ muôn dặm cách xa tội lỗi theo bản năng,
nhưng lại gần kề hơn ai hết với mọi hạng tội nhân.
Khác chi những vũ đài trên đó Thiên Chúa diễn tuồng
song họ thấy mình có khác chi hạng khán giả khiêm cung
vì biết rõ mình chỉ là hư vô.
Họ quyết ẩn dấu mình luôn mãi
song lại cứ tỏa sáng không thôi
hệt như thành cao trên đỉnh núi.
Họ mang lấy sứ điệp vĩnh cửu
vượt quá mọi thời gian,
tiến bộ, văn hóa và giống nòi.
[Cầm bằng như] những lời nóng bỏng
Chúa tuyên phán hầu phá đổ sự biếng nhác chúng ta
như tiếng gõ trên bàn,
vị Tôn Sư Thần Linh thức tỉnh
lũ học trò đãng trí là chúng ta.
Là phép lạ sống động
chẳng cần chi đến chuyên viên
để thừa nhận phẩm chất ngoại thường của Tin Mừng được sống không dối gian (sine glossa)
Như anh hùng ly thoát
khỏi những gì tục lụy
như chuyên viên tuyệt vời trong cảnh sắc nhân sinh.
Khác nào bậc thầy tâm lý chân thật
chạm thấu đến chốn ẩn kín nhất của lòng người,
nhờ lối đường yêu thương.
Họ có thể kích thích cội rễ trong sáng nhất
hay chạm đến những sợi dây hài hòa cổ xưa
hoặc truyền dẫn nỗi nhớ nhung về tương lai.
Như những vì sao trên bầu trời
ôi khác nhau biết mấy
song tận căn được đốt nóng cùng Ngọn Lửa Thần Linh.

Từ khóe nhìn trên, tôi đi đến kết luận thứ hai: nhất thiết phải tìm ra mối liên hệ bất khả phân giữa khóe nhìn của Công đồng về Giáo hội, Dân Thiên Chúa, Bí tích, Mầu nhiệm, Thân mình Đức Kitô, Giáo dân... với tầm nhìn về sự thánh thiện. Công đồng trong Lumen gentium muốn làm sống lại một Giáo hội đi tìm sự thánh thiện. Và chúng ta có thể nói một Giáo hội đánh mất khao khát này sẽ chỉ còn lại không hơn không kém một cơ quan NGO - phi chính phủ - mà thôi. Và như thế, Giáo hội sẽ tỏ ra một thể chế, một cơ cấu, một chủ nghĩa văn phòng hơn là một cộng đoàn của sự hiệp thông với Đức Kitô.

Lumen gentium phải thúc đẩy mỗi người chúng sinh, tu sĩ và linh mục chúng ta trở về lại với tặng phẩm đức tin như một hồng ân, đồng thời gánh vác lấy đức tin như một trách vụ vươn tới sự thánh thiện. Nói rõ hơn, sự thánh thiện được ban luôn là một hồng ân và sự thánh thiện được theo đuổi cũng là một hồng ân dưới diện trách vụ. Và như thế, chúng ta kinh nghiệm lại sự nghịch lý mà thời xưa thánh Phaolô đã nói:
Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu ; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi. (1Cr 15,10)
[1] X. Gioan Phaolô II, Novo Millennio Ineunte, 30.
[2] Ibid., 31.
[3] Ibid.
[4] Joseph Ratzinger, Đức tin Kitô giáo, tr. 364.
[5] Timothy Radcliffe, “And he drew near and went with them.” http://cori.ie/images/stories/website/timothy%20radcliffe.pdf
[6] J. Ratzinger, Ibid., tr. 364.
[7] X. Timothy Radcliffe, Ibid.
[8] X. International Theological Commission, Memory and Reconciliation: The Church and the Faults of the Past, Introduction (December 1999/ Promulgated March 2000).
[9] X. Timothy Radcliffe, “A New Way of Being Church.” http://www.americamagazine.org/new-way-being-church.
[10] J. Ratzinger, Ibid., tr. 366.
[11] Bênêđictô XVI, October 02, 2013.
[12] J.Ratzinger, tr. 366-67; Xt. International Theological Commission, Ibid., số 3.2.
[13] LG 8; Xt. International Theological Commission, Ibid., số 3.1.
[14] X. International Theological Commission, Ibid., số 3.1.
[15] Ibid.
[16] Ibid., số 3.4.
[17] Emil Brunner, “One Holy Catholic Church”, Theology Today 4 (1947), 325); Xt. Đúc kết của Đại hội dân Chúa 2010.
[18] X. Emil Brunner, Ibid.
[19] J. Ratzinger, Ibid., tr. 368.
[20] Timothy Radcliffe, “And he drew near and went with them.”
[21] G. Marcel, Homo Viator, preface.
[22] LG 9; Xt. International Theological Commission, Ibid., số 3.3
[23] J. Ratzinger, Ibid., tr. 367.
[24] Ibid., tr. 366-67.
[25] J. Ratzinger, Ibid., 367.
[26] x. LG chương 8.
[27] J. Ratzinger, Ibid., 326.
[28] GS 43.
[29] LG 39.
[30] GS 33.
[31] LG 41.
[32] LG 40.
[33] GS 45.
[34] GS 52.
[35] A. Pieris, “Chirst Beyond Dogma: Doing Christology in the Context of the Religions and the Poor,” Louvain Studies 25 (2000): 187-231.
[36] A. Pieris, Ibid.
[37] Ibid.
[38] Ibid.
[39] A. Pieris, ibid.
[40] X. Bênêđictô XVI, Deus est Caritas.
[41] GS 24.
[42] GS 25.
[43] X. GS 26-27: “Như thế, phải cung ứng cho con người tất cả những gì cần thiết để sống một cuộc sống thực sự mang tính nhân bản” (GS 26), từ những gì thiết yếu thể lý đến thiêng liêng, tôn giáo.
[44] GS 34.
[45] X. GS 33; 34; 40; 42; LG 34-35.
[46] A. Pieris, Ibid. [Những in đậm là của chính tác giả].
[47] Francis de Sales, On the Love of God, Book X, chap. 1.
[48] x. LG 39; GS 36-38.
[49] GS 39.
[50] X. GS 41: “Ai theo Chúa Kitô, Con Người hoàn hảo, kẻ ấy sẽ được trở nên người hơn.”
[51] GS 42.
[52] GS 40.
[53] GS 40.
[54] X. Đức Phanxicô, nói chuyện với các chủng sinh và tập sinh 7/9/2013; nói chuyện với các chủng sinh tại Pontifical Leonine College of Anagni, 14/4 2014.
[55] X. LG 1.
[56] x. GS 22.
[57] x. GS 22.
[58] x. GS 58.
[59] GS 40.
Read More

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018

THỜI SỰ THẦN HỌC - SỐ 80, THÁNG 05/2018

CHỦ ĐỀ : TUỔI TRẺ

LỜI GIỚI THIỆU


Số báo này được phát hành nhân dịp Thượng hội đồng giám mục sắp nhóm họp vào tháng 10 để bàn về “Người Trẻ, Đức Tin, và Sự Biện Phân Ơn Gọi”. Dĩ nhiên chúng tôi không dám đề ra những hướng đi cho các vị chủ chăn, nhưng chỉ muốn lấy một đề tài “thời sự” để đào sâu vài khía cạnh liên quan đến “thần học”.

Thực ra, việc chọn lựa đề tài còn muốn nhắc lại một kỷ niệm lịch sử nữa. Cách đây 50 năm, vào tháng 5 năm 1968, thế giới đã chứng kiến một cuộc “nổi dậy” của giới trẻ tại Âu châu và Hoa kỳ. Ngày 8 tháng 5 được coi như điển hình của phong trào ấy, được đánh dấu bởi cuộc biểu tình của các sinh viên tại Paris đòi thay đổi các cơ chế đại học cũng như chính trị. Khẩu hiệu đòi hỏi tự do của các sinh viên là: “Cấm không được cấm” (Il est interdit d’interdire). Bầu khí tranh đấu cho tự do cũng được thổi lên ở phía Đông Âu (khối Cộng Sản) với “Mùa Xuân Prague”. Bên kia Đại Tây dương, song song với những cuộc biểu tình tranh đấu quyền lợi cho người da đen (dẫn tới cuộc ám sát mục sư Martin Luther King ngày 4 tháng 4), là những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, nơi mà Hoa kỳ đã gửi hơn nửa triệu binh sĩ tham chiến, điển hình với những cuộc biểu tình tại đại học Berkeley khởi đầu từ ngày 25 tháng 6, với khẩu hiệu “Make love, not war”. Giới trẻ năm 1968 muốn làm thay đổi thế giới qua việc chống lại các cơ chế hiện hành, đang khi các người cầm quyền muốn cho giới trẻ ngồi yên và chấp nhận hiện trạng “Sois jeune et tais toi!” (tạm dịch: các anh còn trẻ, chưa biết gì; im đi). Ngày nay, có lẽ bầu khí ấy không còn nữa, nhưng lịch sử vẫn luôn là bài học. Điều này giải thích vì sao nhiều bài viết trong số này chú trọng đến chiều kích lịch sử của vấn đề.

Trước khi đi vào nội dung, nên lưu ý đến tên gọi chủ đề. “Tuổi trẻ” hiện nay là tên của một nhật báo quen thuộc, cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Thật là thú vị khi biết rằng một nhật báo khác, là diễn đàn của hội Liên hiệp Thanh niên Việt nam, lại mang tên là “Thanh niên”. “Tuổi trẻ” và “Thanh niên” là hai tờ báo khác nhau; nhưng dưới khía cạnh từ ngữ, “Tuổi trẻ” và “Thanh niên” có gì khác nhau không? Như sẽ thấy, câu chuyện từ ngữ trở thành đầu đề tranh cãi cho nhiều môn học, đặc biệt là xã hội học và tâm lý học[1].

1. Mở đầu cho số báo là bài Tuổi trẻ dưới cái nhìn lịch sử văn hóa (của giáo sư Alessandro Cavalli). Thay vì nghiên cứu các lý thuyết xã hội học về tuổi trẻ, chúng ta hãy theo dõi sự thay đổi quan niệm về tuổi trẻ trải qua dòng lịch sử, không những từ các xã hội sơ khai đến các xã hội tân tiến, mà còn phân tích những nhân tố tạo ra nếp sống của những người “không còn là thiếu nhi nữa nhưng cũng chưa trưởng thành”. Thời xưa, giai đoạn chuyển tiếp từ thanh niên sang trưởng thành tương đối ngắn ; ngày nay, khó xác định thời gian ấy kéo dài bao lâu, bởi vì các mốc điểm được thả nổi (Khi nào được coi là chấm dứt thời học trò ? Khi nào được coi là bước vào thời làm việc ? Khi nào được coi là tự lập về gia đình ?).

2. Trong ngôn ngữ thường nhật, xem ra ai cũng hiểu thế nào là TRẺ. Nhưng đến khi đi vào lãnh vực chuyên môn của xã hội học và tâm lý học, các tác giả không nhất trí trong việc xác định ý nghĩa của các từ ngữ : trẻ, thiếu niên, dậy thì, thanh niên, trưởng thành, tráng niên, vv. Qua bài viết Giới trẻ dưới góc nhìn của một số lý thuyết tâm lý học, tu sĩ Nguyễn Long Quân O.P. điểm qua vài quan điểm trong ngành tâm lý phát triển : về nhận thức, về tâm lý tính dục, về tâm lý xã hội, về luân lý.

3. Sau hai bài nghiên cứu thuộc lãnh vực nhân văn, chúng ta bước sang lãnh vực thần học, trước hết với bài Giới trẻ trong Kinh thánh. Tu sĩ Nguyễn Quốc Minh Tuấn O.P. phân tích 5 từ ngữ được sử dụng trong Kinh thánh (5 trong Cựu ước và 3 trong Tân ước), để khám phá ý nghĩa của tuổi trẻ, đặc biệt qua vài nhân vật điển hình.

4. Nhờ ba giáo sư Đại Học Salesianum (Roma), biên soạn từ điển Dizionario di Pastorale Giovanile, chúng ta theo dõi Lịch sử mục vụ giới trẻ trải qua bốn giai đoạn: cổ thời, trung đại, cận đại, hiện đại. Tuy giai đoạn hiện đại ngắn ngủi nhất (thế kỷ XX) nhưng lại là lúc mà “Mục vụ giới trẻ” trở thành mối quan tâm đặc biệt của Giáo hội. Tác giả cũng cho biết thêm là thực trạng của giới trẻ châu Âu thay đổi khá nhiều trong vòng hậu bán thế kỷ XX.

5. Mục vụ giới trẻ là gì? Cha Rossano Sala SDB, thư ký đặc biệt của Thượng hội đồng giám mục sắp tới về giới trẻ, sẽ trình bày vài suy tư về mục tiêu, phương tiện, động lực của ngành này, đặt trong bối cảnh của việc loan báo Tin Mừng cách mới mẻ. Mọi hoạt động mục vụ đều nhằm đem Chúa Giêsu đến với con người thời đại. Thế nhưng, theo nhận xét của tác giả, chúng ta thường chỉ bận rộn với việc “làm cách nào” (các phương tiện) nhưng ít quan tâm đến “tại sao làm” (động lực thúc đẩy). Chúng ta nói nhiều về Chúa nhưng ít nói với Chúa. Chúng ta không chỉ mang Chúa đến với các bạn trẻ, nhưng cần mang họ đến với Chúa, mời gọi họ làm môn đệ của Đức Kitô để cùng tham gia vào sứ mạng của Giáo hội.

6. Khi ôn lại lịch sử các ngày Đại Hội giới trẻ quốc tế, khởi đầu từ năm 1986 do sáng kiến của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, chúng ta có thể khám phá một nét trong mục vụ giới trẻ theo quan điểm của Giáo hội, đó là : giúp các bạn trẻ tìm gặp lý tưởng cuộc sống nơi Đức Giêsu Kitô qua biểu tượng của cây Thập giá. Bên cạnh những buổi huấn giáo do các giám mục đảm trách, dưới thời Đức thánh cha Bênêđictô XVI, còn thêm giờ thờ lạy Mình Thánh Chúa. Cũng nên biết là hai cuốn sách YOUCAT và DOCAT được phát hành trong khuôn khổ của các buổi gặp gỡ này.

7. Sau khi đã rảo qua một vòng các lý thuyết và kinh nghiệm lịch sử trên thế giới, các độc giả được mời về quê hương qua bài viết của Nữ tu Trần Như Ý Lan: Vài tản mạn suy tư về người trẻ Việt Nam ngày nay bước theo Đức Kitô: thách đố và đáp trả.

8. Cuối cùng, một câu chuyện mang tính cách thời sự của Giáo hội là Tông huấn Gaudete et exsultate do Đức Thánh Cha Phanxicô ký ngày 19 tháng 3 năm nay, nhân dịp kỷ niệm 5 năm thi hành sứ vụ kế nhiệm thánh Phêrô. Văn kiện muốn nhắc lại ơn gọi nên thánh của mọi Kitô hữu, nhưng không theo kiểu trình bày một khảo luận thần học mà chỉ là những lời thôi thúc của một mục tử. Cách riêng, tác giả cảnh báo hai kẻ thù độc hại (được đặt tên là Tân-ngộ-giáo và Tân Pêlagiô) cũng như những trở ngại cho việc nên thánh trong thời buổi hiện nay, đồng thời cũng nhắc đến những phương thế cần thiết: chiến đấu, tỉnh thức, phân định.

Mặc dù chủ đề của số báo được gợi lên do Thượng hội đồng Giám mục sắp họp vào tháng 10 năm nay, nhưng vì công việc chuẩn bị còn đang tiếp diễn (chúng ta chỉ mới biết “Tài liệu chuẩn bị”, được giới thiệu vào ngày 13/1/2017, mở đầu cho các cuộc tham khảo ý kiến, trước khi đúc kết thành “Tài liệu làm việc” vào giữa năm nay), cho nên chúng tôi chưa thể cung cấp các thông tin liên quan đến biến cố này. Tuy vậy, hy vọng rằng những bài nghiên cứu trên đây cũng đã gợi lên vài ý tưởng chung quanh mối bận tâm chính yếu của Giáo hội, đó là: giáo dục đức tin cho các bạn trẻ, giúp cho các bạn gặp gỡ Chúa Kitô, và trở nên những môn đệ của Người.

Trung tâm Học vấn Đa Minh
___________
[1] Đó là chưa nói đến sự ra đời của một môn học mới: “Thanh niên học” “Juvenology” ghép bởi từ juvenis (tiếng Latinh, từ đó jeune/jeunesse tiếng Pháp; young, youth tiếng Anh; joven/juventud tiếng Tay ban nha ; giovani/ gioventu tiếng Ý) và logia (gốc bởi “logos” tiếng Hy-lạp (có nghĩa là lời, lý luận).
Read More

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

NÀY CON LÀ ĐÁ

Thời Sự Thần Học – Số 39, tháng 3/2005, tr. 131-149

Quốc Văn, O.P.

TSTH số 39 ra mắt quý độc giả nhân dịp Mùa Chay và Phục Sinh, với biến cố Ngũ Tuần được coi như ngày khai sinh của Giáo hội; và cũng vì muốn viết tiếp theo bài “Thánh thể làm nên Giáo hội”, được đăng trên TSTH số trước, nên trong số này, chúng tôi muốn dừng chân giây lát để nhìn về Giáo hội, với bài viết “Này con là đá…” khởi đi từ một gợi ý rất cụ thể: Bạn nghĩ gì về Giáo hội ? Từ đó chúng ta tìm hiểu một chút về mầu nhiệm Giáo hội, để thực sự thấy được một Giáo hội của lòng trắc ẩn; và Giáo hội chính là sự quy tụ trong Thần Khí của Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã xây dựng Giáo hội trên nền tảng đức tin của thánh Phêrô. Từ danh xưng Simon, tông đồ Phêrô đã được đổi tên là “ĐÁ TẢNG”, một tên gọi thật ấn tượng, mạnh mẽ. Và chính trên nền Đá Tảng ấy, Giáo hội đã được hình thành và phát triển, vượt qua nhiều sóng gió trong suốt 21 thế kỷ qua, và sẽ trường tồn mãi như lời hứa của Đức Giêsu : Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy, và quyền lực quỷ thần sẽ không thắng nổi…

Nhân dịp mừng sinh nhật của Giáo hội lần này, chúng ta hãy dừng chân chốc lát để nhìn về Giáo hội là mẹ hiền của chúng ta, với lòng trân trọng, biết ơn và yêu mến.

Điểm khởi đi của chúng ta chính là câu hỏi bỏ ngỏ :

I. BẠN NGHĨ GÌ VỀ GIÁO HỘI ?


Khi bàn về Giáo hội, người ta thường nhìn Giáo hội với những cơ cấu, phẩm trật, và do vậy không ít người ác cảm với chính Giáo hội của mình. Giáo hội là ai đó chứ không phải là tôi.

Thực ra Giáo hội không phải chỉ là cơ cấu, nhưng trước tiên Giáo hội là “mẹ chúng ta” (Gl 4,26), là “hiền thê tinh tuyền của Con Chiên không tỳ ố” (Kh 19,7; 22,17), là “nhà Thiên Chúa” (1Tm 3,15), là “thành Giêrusalem trên trời” (Kh 12,17) … Hơn nữa Giáo lý Hội thánh Công giáo còn dạy rằng: ”Giáo hội là một với Đức Kitô” (Số 795).

Chúng ta được mời gọi tham dự làm nên Hội thánh và là chính Hội thánh. Trong lòng Hội thánh, tôi muốn nhìn Hội thánh như một bà mẹ. Mẹ đã sinh ra tôi, nuôi dưỡng tôi. Dù Mẹ có già nua, có xấu xí, thì đó vẫn là mẹ tôi, đáng để tôi yêu quý và trân trọng. Nếu trên mặt Mẹ có những vết nhăn, những tỳ ố, thì tôi phải có trách nhiệm làm cho khuân mặt Mẹ rạng rỡ hơn hơn.

Bản chất của Giáo hội là duy nhất (GLHTCG số 813). Giáo hội là dấu chỉ sự hiệp nhất của nhân loại, là nơi thể hiện sự khát vọng của Đức Giêsu : “Lạy Cha, xin cho chúng nên một, như Cha ở trong Con, và như Con ở trong Cha”.

Và cũng tự bản chất, Giáo hội là thánh thiện, vì Giáo hội được phát sinh và nuôi dưỡng từ chính sự sống của Đức Giêsu ; Giáo hội được trang điểm bằng một sự thánh thiện đích thực, tuy chưa hoàn hảo (GLHTCG số 825).

Hội thánh cũng là Công giáo vì được Đức Kitô sai đến với toàn thể nhân loại(GLHTCG số 831). Nếu ngày lễ Ngũ Tuần là sinh nhật của Giáo hội, thì Giáo hội ấy còn trải dài cho tới ngày Chúa quang lâm.

Hiến chế về Giáo hội Lumen Gientium số 13 quảng diễn :
“Mọi người được mời gọi gia nhập Dân Thiên Chúa. Vì thế, dân mới này, một dân hiệp nhất và duy nhất có bổn phận phải lan rộng khắp thế giới trải qua mọi thế hệ, hầu hoàn tất kế hoạch của thánh ý Thiên Chúa”.
Cuối cùng, Hội thánh cũng là tông truyền, vì hội thánh được xây dựng trên nền tảng các tông đồ, được Chúa Thánh Thần trợ giúp và gìn giữ kho tàng các tông đồ truyền lại, được chính cách tông đồ giảng dạy và thánh hóa qua các vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục tử (GLHTCG số 857).

Như vậy Giáo hội được tuyên xưng với bốn đặc tính : duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Đó là bản chất của Giáo hội, bản chất của Mẹ chúng ta. Tuyên xưng như thế để chúng ta can đảm đón nhận những sự thật chưa hoàn hảo của Giáo hội. Giáo hội vẫn còn mang thân phận lữ hành, còn cần được thanh luyện. Giáo hội ôm ấp trong lòng cả những con người tội lỗi; và chính tội lỗi đã gây ra chia rẽ, đã làm cho sự hiệp nhất của Giáo hội bị tổn thương, làm cho Giáo hội không hoàn toàn thánh thiện. Trong Giáo hội vẫn còn đó những hận thù, những tranh giành quyền lực, óc cố chấp, bè phái, trịch thượng … Thấy những vết nhăn như thế trên mặt Mẹ mình, nhưng không được quyền thất vọng. Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong lòng Giáo hội, trong lòng mỗi người chúng ta.

Giáo hội vẫn trải dài trong thời gian, và không một thời điểm nào Giáo hội không bị thử thách. Giáo hội còn phải chiến đấu mỗi ngày, phải nỗ lực mỗi ngày để thi hành sứ mạng của mình. Giáo hội không ngừng phải trở nên Bí tích của sự hiệp nhất, vì mục đích đầu tiên của Giáo hội là trở thành Bí tích của sự kết hợp mật thiết giữa con người với Thiên Chúa (GLHTCG số 775). Giáo hội không ngừng phải trở nên thánh thiện mỗi ngày, nhờ biết canh thân và hoán cải nội tâm, để Hội thánh trở thành công cụ hữu hiệu đem ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại. Một khi sống trọn vẹn mầu nhiệm hiệp nhất và thánh thiện, Giáo hội trờ thành ánh sáng soi chiếu mọi người và đặc tính Công giáo được hiển tỏ. Và chính lúc này, giáo lý của các Tông đồ cũng được sống động trong lòng Hội thánh và sinh nhiều hoa thơm trái tốt.

Cuối cùng, chúng ta nhìn về Hội thánh qua gương mẫu Trinh Nữ Maria. Mẹ chính là thành phần ưu tuyển, là mẹ Hội thánh và là chính Hội thánh nữa. Chúng ta chiêm ngắm Giáo hội trong tư cách là Mẹ, một người Mẹ đầy yêu thương lân tuất. Lời của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu như một xác tín về tình yêu tuyệt vời trong Giáo hội :
“Giáo hội có một trái tim và trái tim ấy cháy lửa yêu mến. Tôi hiểu rằng chỉ có tình thương khiến các chi thể hoạt động, và nếu thiếu tình thương, các tông đồ sẽ không loan báo Tin Mừng nữa, các vị tử đạo sẽ không chịu đổ máu mình nữa. Tôi hiểu rằng tình thương cưu mang tất cả ơn gọi, tình thương là tất cả, tình thương bao trùm mọi thời đại và mọi nơi chốn … Tóm lại, tình thương là vĩnh cửu”.
Bạn nghĩ gì về Giáo hội ? Đó là lời mời gọi bỏ ngỏ, dẫn ta vào một thực tại khác sâu thẳm hơn, là chính mầu nhiệm Giáo hội.

II. MẦU NHIỆM GIÁO HỘI


1. Tại sao các Giáo phụ coi Giáo hội là một mầu nhiệm ?


Giáo hội chỉ là một (đặc tính duy nhất của Giáo hội) nhưng rất phong phú, không một hình ảnh nào có thể diễn tả trọn vẹn được Giáo hội. Do vậy, Giáo hội được diễn tả bằng nhều hình ảnh khác nhau : Giáo hội là đoàn chiên có một người mục tử (Ga 10), là hiền thê tinh tuyền của Con chiên không tỳ ố (Kh 19,7;22,17), là nhà Thiên Chúa (1Tm 3,15)…

Các thánh Giáo phụ cũng có cái nhìn rất phong phú về Giáo hội. Thánh Clement thành Alexandre và thánh Cypriano coi Giáo hội như một người mẹ; Methodio thành Olympus lại diễn tả Giáo hội như hiền thê của Đức Giêsu, như Eva được khai sinh từ cạnh sườn của Ađam. Thánh Ambosio thành Milan và thánh Cypriano thành Carthage cũng diễn tả Giáo hội bằng hình ảnh hiền thê xinh đẹp. Đặc biệt hình ảnh Giáo hội là thân mình Đức Giêsu đã được nhiều Giáo phụ quảng diễn, bởi vì qua phép rửa tội, tất cả mọi người được trở nên một thân thể duy nhất trong một Thần Khí (Cr 12,13). Thánh Clement giải thích : theo sách Sáng Thế, Thiên Chúa dựng nên con người có nam, có nữ (St 1,27), nam đây có thể hiểu là Đức Kitô, và nữ chính là Giáo hội. Và như vợ chồng nên một với nhau thế nào, thì mầu nhiệm giữa Đức Kitô và Giáo hội cũng vậy.

Thực ra, không thể nào hiểu hết được sự phong phú của Giáo hội. Chúng ta được mời gọi để đón nhận, yêu mến hơn là mong có thể hiểu được trọn vẹn về Giáo hội. Giáo hội không bao giờ là điểm kết thúc, mà là điểm khởi đầu, là lối mở cho ta tiếp tục dấn thân, khám phá. Trong lối nhìn này, chúng ta mới hiểu được tại sao các Giáo phụ lại gọi Giáo hội là một mầu nhiệm, và mầu nhiệm này được sáng tỏ nơi Đức Kitô.

2. Mầu nhiệm Giáo hội được tỏ bày nơi Đức Kitô


Có thể nói, chỉ nơi Đức Kitô, mầu nhiệm Giáo hội mới được tỏ bày trọn vẹn. Không có Đức Kitô, lời hứa sẽ không được thực hiện và cũng không có Giáo hội. Phần lớn những hình ảnh dùng để diễn tả Giáo hội đều có liên hệ tới Đức Kitô. Không thể nói đến hiền thê, nếu không có Đức Kitô là phu quân; không thể nói đến đoàn chiên, nếu không có Đức Kitô là mục tử; không thể nói đến thân mình, nếu không có Đức Kitô là đầu… Nói cách khác, chỉ nơi Đức Kitô, và qua Giáo hội của Người, ý định cứu độ của Thiên Chúa mới được thực hiện trọn vẹn.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng nơi các Giáo phụ có một điểm độc sáng, là các ngài không coi Giáo hội như chỉ bắt đầu nơi Đức Kitô khi người gọi và chọn các tông đồ, nhưng Giáo hội bắt đầu từ muôn thuở khi tạo dựng đất trời. Giáo hội chính là sự thể hiện lời hứa từ khởi đầu của thời gian cho đến ngày tận cùng của nhân loại. Thánh Ignatio giải thích Giáo hội như là việc thông ban sự viên mãn của Chúa Cha, từ ngàn đời, thánh ý của Người đã muốn thế. Và quả thực, không ai biết được Chúa Cha mà không qua Đức Giêsu, không qua Giáo hội của Người.

Tóm lại, nơi Đức Kitô mầu nhiệm Giáo hội được tỏ bày trọn vẹn, và Giáo hội đó mang một tên gọi cụ thể: cộng đoàn yêu thương.

3. Giáo hội : cộng đoàn yêu thương


Sách Công Vụ Tông Đồ diễn tả Giáo hội như một cộng đoàn yêu thương, gắn bó, chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, năng tham dự thánh lễ và cầu nguyện không ngừng. Đó cũng là một cộng đoàn mọi người để tất cả của cải làm của chung … (2,42-47). Người ta có thể nhìn vào cộng đoàn Giáo hội và nhận ra đó là cộng đoàn yêu thương, cộng đoàn của những người theo đạo yêu nhau. Tinh thần yêu thương này có giá trị và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và giáo huấn của các Giáo phụ. Thánh Âutinh trong tác phẩm “ The way of life of the Catholic Church”, đã vẽ nên bức tranh sống động về Giáo hội như một cộng đoàn yêu thương. Theo thánh Âutinh, đối với người Kitô hữu chúng ta, không có nguyên tắc sống nào khác hơn là hãy yêu mến Thiên Chúa hết trái tim, hết tâm hồn, hết sức lực ta, và yêu thương người thân cận như chính mình (Mt 22, 37-39). Cũng chính vì lẽ sống này, đường lối mục vụ của Giáo hội cũng không gì khác hơn là phục vụ mọi người trong tinh thần bác ái. Tất cả mọi công việc, mọi mối tương quan phải được xây dựng trên nền tảng đức ái này. Chẳng vậy, Giáo hội bao gồm đủ mọi thành phần, có những người thánh thiện và cũng không thiếu những người tội lỗi; nhưng mọi người đều được tôn trọng, đối xử bình đẳng và được yêu thương như nhau. Đây là một hướng mục vụ tuyệt vời được xây dựng trên nền tảng Giáo hội là một cộng đoàn yêu thương.

Mầu nhiệm Giáo hội thật khôn do khôn thấu. Chính nhờ các Giáo phụ là những người đã sống vào thời đầu của Giáo hội, nhờ những kinh nghiệm, suy tư và giáo huấn của các ngài, Giáo hội trải qua mọi thời vẫn được đón nhận và hiểu biết một cách đúng đắn. Càng sống xa với Giáo hội thời đầu, chúng ta càng có nguy cơ xa cách nguồn mạch và hiểu lệch lạc về Giáo hội; do vậy, việc tìm về với giáo huấn của các Giáo phụ là chúng ta đang trên hành trình về nguồn, hành trình này sẽ giúp chúng ta hiểu biết và yêu mến Giáo hội nhiều hơn. Giáo hội không phải là những cơ cấu cứng nhắc, cũng không phải chỉ là một thực tại con người không thể thấu đáo, nên gọi là mầu nhiệm; hơn thế nữa, Giáo hội còn được tỏ bày là Giáo hội của lòng trắc ẩn.

III. GIÁO HỘI CỦA LÒNG TRẮC ẨN


Giáo hội là một người mẹ mang trong mình vai trò chứng tá, loan báo cho mọi người về một Thiên Chúa yêu thương và kế hoạch cứu độ của Người. Trong thế giới hôm nay, Giáo hội đang phải đối diện với bao điều phức tạp, nhiều bậc thang trong xã hội bị đảo lộn, của cải vật chất đang lấn át đời sống tinh thần của con người, và hố ngăn cách giàu - nghèo trong xã hội ngày càng thăm thẳm. Để nên chứng tá, Giáo hội phải xác định lại căn tính, và chọn lựa một cách thế hiện hữu cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội hôm nay.

1. Giáo hội giàu hay Giáo hội nghèo ?


Tác giả Jon Sobrino, SJ. Phân tích hai nguyên lý hình thành nên Giáo hội, đó là “nguyên lý giàu” và “nguyên lý nghèo”. Nếu Giáo hội được hình thành từ nguyên lý giàu, tự căn bản, Giáo hội đi ngược lại với mầu nhiệm nhập thể của Đức Giêsu. Thánh Phaolô trình bày cho chúng ta dung mạo của Đức Giêsu, đầu của Giáo hội:

“Đức Giêsu Kitô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế “(Pl2, 6-7).

Con đường Đức Giêsu đi là con đường hẹp của Tin mừng, trái với con đường sự dữ khởi đầu bằng sự giàu sang phú quý. Của cải vất chất dễ làm tha hóa con người, đẩy con người tới lòng tham vô đáy, tôn sùng của cải như những thần tượng … Chính Đức Giêsu đã cảnh cáo thái độ này: “Không ai có thể làm tôi hai chủ được”.

Nếu Giáo hội được hình thành từ nguyên lý giàu có, thì Giáo hội khó có thể chọn lựa người nghèo, và như vậy họ sẽ bị loại ra bên lề Giáo hội. Trong khi đó, Kinh thánh cho thấy người nghèo luôn được Chúa yêu thương :

“Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi khổ đau của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một vùng đất tốt tươi …” (Xh 2, 7-8).

Khi suy nghĩ về Giáo hội, tôi luôn tự nhủ : Giáo hội của tôi có thực sự là Giáo hội nghèo khó ? Tinh thần Bát Phúc có thực sự là kim chỉ nam cho Giáo hội tiến bước hay không ? Và chính bản thân tôi là thành phần của Giáo hội, tôi có thực sự sống khiêm hạ, nghèo khó, nên chứng tá của Tin mừng ? Nhìn vào đời sống của Giáo hội, đời sống của chính mình, tôi không khỏi bị Tin mừng chất vấn !

2. Căn tính của Giáo hội


Một trong những nét đặc trưng của Giáo hội là sự nghèo khó. Con đường của Đức Giêsu khởi sự là con đường nghèo khó : sinh ra trong cảnh nghèo (Lc 2, 1-20), lớn lên trong cảnh nghèo, rao giảng về sự khó nghèo (Mt 5,3), giao du với những người bị khinh dể (Mt 9).., và chết trần trụi không một tấm áo che thân. Chính Đức Giêsu ấy đã thiết lập Giáo hội và giáo hội của Người phải là Giáo hội khiêm hạ, yêu thương và phục vụ. Giáo hội đó phải là một dân mới của Thiên Chúa, là sự tiếp nối của một dân toàn những người nghèo của Giavê (Đnl 7,6-11).

Trong một xã hội đầy những người nghèo khổ, sự hiện diện khiêm hạ của Giáo hội như một sự đồng cảm, như lời chứng cho một Thiên Chúa luôn gần gũi, chia sẻ trọn vẹn kiếp người. Trong nghèo khó, mầu nhiệm Nhập thể của Đức Giêsu được biểu tỏ. Trong nghèo khó mọi sự dối trá đều bị vạch trần, sự thật được phơi bày dưới ánh sáng. Đó là sự thật một Đức Giêsu, một Giáo hội bị bách hại; lời Đức tổng giám mục Romeo, một người đã chịu bách hại, đã trở nên nghèo khó đến tận cùng, như một thứ ánh sáng soi dọi cho chúng ta : “Anh em quý mến, tôi vui mừng khi Giáo hội bị bách hại. Điều ấy cho thấy Giáo hội đã thực sự nhập thể trong sự nghèo hèn”.

Như vậy, nghèo hèn đồng nghĩa với sự bách hại; nghèo hèn là chứng tá, là nét nổi bật Giáo hội phải thể hiện. Theo ý nghĩa này, chúng ta có thể hiểu được Giáo hội, vì trong thực tế, xét về mặt của cải, có lẽ Giáo hội chưa thực sự là nghèo khó ! Dưới cái nhìn của tác giả Jon Sobrino, SJ, nghèo khó còn được mở ra với một nhãn quan mới :

3. Giáo hội nghèo là Giáo hội giàu lòng trắc ẩn


Từ khởi đầu đã có lòng trắc ẩn, và đây là nguyên lý chi phối cả lịch sử cứu độ của con người. Thiên Chúa cứu con người là do lòng trắc ẩn của Ngài, và lòng trắc ẩn được thể hiện qua hành động yêu thương của Thiên Chúa. Những biến cố Thiên Chúa can thiệp và cứu dân trong Cựu ước là một bằng chứng hùng hồn cho lòng trắc ẩn của Ngài.

Trong Tân ước, Đức Giêsu còn diễn tả lòng trắc ẩn đậm nét qua dung mạo của Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng xót thương. Tình thương của Chúa Cha được thể hiện cụ thể qua con người của Đức Giêsu : một người Samaritanô nhân hậu chăm sóc vết thương cho người bị nạn, một mục tử tốt lành bỏ 99 con chiên nơi đồng vắng để đi tìm con chiên lạc, một người cha sẵn sàng ra nghênh đón đứa con hoang đàng trở về, và là một Thiên Chúa sẵn sàng mang thân phận tội nhân chết tất tưởi trên thập giá. Tất cả những việc làm này của Đức Giêsu đơn giản chỉ là vì yêu thương, là thể hiện lòng trắc ẩn của Người.

Giáo hội cũng được mời gọi cùng thi thố một lòng trắc ẩn như thế. Lòng trắc ẩn chính là nguyên lý và cũng là cùng đích để Giáo hội hướng tới. Thể hiện lòng trắc ẩn là Giáo hội sống nghèo, chống lại sự giàu sang phú quý; lòng trắc ẩn giúp Giáo hội đón nhận sự bách hại và chống lại những vinh quang hão huyền của trần gian; lòng trắc ẩn giúp Giáo hội biết thực sự sống khiêm tốn, thay vì một thái độ tự mãn, kiêu ngạo; và cuối cùng lòng trắc ẩn sẽ đưa Giáo hội đến mọi nhân đức.

Tóm lại, lòng trắc ẩn chính là điểm hội tụ của Tin mừng, Tin mừng đó không chỉ trình bày một sự thật cứu độ, nhưng còn loan báo tình thương và niềm vui. Lòng trắc ẩn phải là tên gọi mới của Giáo hội : Giáo hội nghèo chính là Giáo hội giàu lòng trắc ẩn; và Giáo hội giàu lòng trắc ẩn là Giáo hội nghèo khó đích thực.

Cũng trong một hướng nhìn về Giáo hội ấy, chiều kích cuối cùng trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập tới, Giáo hội là sự quy tụ trong Thần Khí của Đức Giêsu.

IV. GIÁO HỘI : SỰ QUY TỤ TRONG THẦN KHÍ CỦA ĐỨC GIÊSU


Có thể nói ngày khai sinh Giáo hội chính ngày lễ Ngũ Tuần. Đức Giêsu đến trần gian loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa, mời gọi mọi người tham dự bàn tiệc Nước Trời, quy tụ muôn người và khai sinh Giáo hội. Thế nhưng Giáo hội chỉ thực sự thi hành sứ mạng của mình khi Đức Giêsu về trời và cử Chúa Thánh Thần đến với các môn đệ.

Thời kỳ của Giáo hội là thời kỳ hoạt động của Chúa Thánh Thần. Sách Công Vụ Tông Đồ là cuốn “Tin mừng” sống động Thánh Thần đã viết ra qua tay thánh sử Luca. Những trang Tin mừng sống động này đã cho chúng ta thấy sức sống mãnh liệt của Giáo hội thời sơ khai. Sức mạnh của Thần Khí là linh hồn mọi hoạt động của các Tông đồ và của cả Giáo hội.

I. Thần Khí hoạt động trong các cộng đoàn Giáo hội thời sơ khai


a. Tại Giêrusalem

Sức mạnh Thần Khí của Đức Giêsu lan tỏa nơi cộng đoàn sơ khai của các môn đệ ở Giêrusalem. Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy có cả ba ngàn người Do Thái xin chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu sau khi nghe thánh Phêrô giảng vào ngày lễ Ngũ Tuần. Đây là niềm vui, là sức sống mạnh mẽ của cộng đoàn mới mẻ này :

“Các tín hữu chuyên cần lắng nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kính sợ vì các Tông đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán tất cả đất đai, lấy tiền của chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, được dân thương mến, và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2, 42-47) .

Lúc khởi đầu, các Kitô hữu được mệnh danh là “những môn đệ trên đường phố”; với ơn Thánh Thần, họ có sức thuyết phục, lôi cuốn đám đông dân chúng quy tụ quanh mình. Tuy nhiên họ vẫn còn mang não trạng là một người Do Thái, ngày ngày vẫn lên đền thờ Giêrusalem. Như những con người theo phong trào Giêsu, họ “bẻ bánh” tại tư gia, chia sẻ Thánh Thể để tưởng niệm về Đức Giêsu trong những bữa tiệc của họ. Giữa cộng đoàn, không ai là những người nghèo, vì họ để tất cả của cải làm của chung và cũng chia sẻ với nhau. Lối sống yêu thương bác ái củahọ đã trở nên một bài giảng hùng hồn về sức mạnh của Đấng Phục Sinh, và chính nhờ lối sống chứng tá này, Tin mừng ngày càng được lan rộng. Giáo hội không còn chỉ gói gọn ở Giêrusalem nữa, mà lan rộng ra khắp nơi, và rồi sau này lan rộng đến tận cùng thế giới.

b. Vượt ra khỏi Giêrusalem

Thần Khí của Đức Giêsu đã hoạt động vượt ra khỏi phạm vi Giêrusalem, nhiều Giáo hội địa phương được thành lập, khởi đầu là những thành thị vùng Palestin. Chắc chắn phong trào trẻ trung này đã bắt đầu lôi cuốn dân ngoại (những người không phải là Do Thái). Tại Antiôkia, cộng đoàn đầu tiên được thành lập bao gồm cả người Do Thái và dân ngoại theo Đức Giêsu. Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy rằng : “Tại Ankiôkia, các môn đệ lần đầu tiên được gọi là Kitô hữu”(11,26), bởi vì họ là những người theo Chúa Giêsu Kitô.

Ngày càng có đông dân ngoại chịu phép rửa, nên các tông đồ là những người Do Thái theo Chúa Kitô, đã đưa ra những vấn nạn quan trọng : Những người dân ngoại theo Chúa Kitô, trước tiên có phải gia nhập Do Thái giáo không ? Có phải giữ tất cả các tập tục, luật lệ của Do Thái giáo, kể cả việc những người đàn ông phải cắt bì ? Các tông đồ đã nhóm họp Công đồng tại Giêrusalem và quyết định “mở cửa” cho dân ngoại, họ không phải gia nhập Do Thái giáo trước khi trở thành Kitô hữu. Sau đó, phong trào những người theo Đức Giêsu ngày càng lan rộng và lan tỏa khắp đế quốc Rôma.

c. Sự tách ly khỏi Do Thái giáo

Những người Kitô hữu đã cởi mở đối với dân ngoại, không bắt họ phải gia nhập Do Thái giáo trước khi trở nên Kitô hữu. Điều này đã gây nên vết rạn nứt giữa những người Kitô hữu và những nguời lãnh đạo Do Thái giáo. Sau biến cố Đền Thờ bị quân Rôma phá hủy vào năm 70 và người Do Thái phải phân tán khỏi trung tâm là Giêrusalem, giới lãnh đạo Do Thái thấy rằng phải xiết chặt những sinh hoạt tôn giáo của người Do Thái lại. Trước đó những người lãnh đạo Do Thái giáo đã không cho phép những tín hữu Kitô gốc Do Thái được cử hành phụng tự tại hội đường với người theo đạo Do Thái. Vào thời điểm này, phong trào Kitô hữu đã tách biệt ra khỏi Do Thái giáo và trở thành một tôn giáo độc lập, đó là Kitô giáo. Tuy vậy, người Kitô hữu vẫn biết rằng, đức tin của mình được xây dựng trên nền tảng Do Thái giáo, họ vẫn tiếp tục cầu nguyện và đọc Kinh Thánh Do Thái (theo truyền thống được gọi là Cựu Ước), và ngày nay, trong việc phụng tự, người Kitô hữu vẫn đọc Kinh Thánh Cựu Ước này

2. Giáo hội : sự quy tụ trong Thần Khí


Khởi đi từ Giáo hội sơ khai và đời sống của những người theo Chúa Kitô vào những thập niên đầu sau biến cố Ngũ Tuần, chúng ta có thể xác định nền tảng của Giáo hội chúng ta đang sống hôm nay. Quả thực, Giáo hội hôm nay chính là sự tiếp nối, kế thừa Giáo hội tiên khởi trải qua cả 2000 năm lịch sử. Giáo hội này đã tồn tại, phát triển suốt 20 thế kỷ và lan rộng ra khắp các châu lục. Ngày nay khoảng một phần ba dân số thế giới là người Kitô hữu, và hơn một nửa trong số đó là người Công Giáo.

Thánh Thần đã quy tụ Giáo hội, và trải qua bao bước thăng trầm, có những lúc tưởng chừng như Giáo hội đã hoàn toàn tan rã với bao cuộc bách hại, bao cuộc phân ly, bao sai lầm và suy thoái ... Thế nhưng Giáo hội vẫn trường tồn và phát triển mạnh mẽ, vượt qua mọi sóng gió của trần gian. Chính sức mạnh của Thánh Thần đã làm lên điều kỳ diệu đó.

a. Sự quy tụ của những người tin, những người tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu

Dù chúng ta có nói về Giáo hội của những năm 70 hay là Giáo hội của năm 2005, thì Giáo hội vẫn là như thế. Giáo hội Kitô giáo là sự quy tụ những người tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô và lãnh nhận phép rửa trong đức tin đó. Và còn hơn thế nữa, Giáo hội là sự diễn tả sống động về Chúa Giêsu cho thế giới, tiếp tục sứ mạng của Người nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Nhưng sứ mạng của Đức Giêsu là gì ? Như chúng ta đã nói ở trên, sứ mạng của Đức Giêsu là loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa bằng chính cuộc sống của Người, bằng sự hy sinh chịu chết và phục sinh vinh hiển. Đức Giêsu được Chúa Cha cử đến để hiệp nhất con người với Thiên Chúa và thiết lập Vương Quốc Thiên Chúa trong công lý và hoà bình trên thế giới. Như vậy, Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu nghĩa là Giáo hội trở nên công cụ cứu độ của Thiên Chúa trong lòng lịch sử.

Do đó, Giáo hội không hiện hữu cho chính mình như một thể chế, nhưng giúp cho các phần tử tiến đến đời sống viên mãn và thánh thiện. Và Giáo hội hiện hữu là cho toàn thể thế giới này, thắp lên cho thế giời ngọn lửa tin yêu, hy vọng; trở nên nguồn mạch cho sự hiệp nhất và chữa lành, giữa một thế giới đang bị xâu xé bởi chiến tranh, hận thù, chia rẽ, tội lỗi và bất công.

b. Những hình ảnh nói về Giáo hội

Giáo hội chỉ là một, là duy nhất, nhưng rất phong phú, không một hình ảnh nào có thể diễn tả trọn vẹn được Giáo hội. Do vậy, Giáo hội được diễn tả bằng nhều hình ảnh khác nhau, cho dù đó là Giáo hội địa phương hay là Giáo hội hoàn cầu.

Xin khai triển ba hình ảnh sau đây như nét đặc trưng của Giáo hội :
  • Giáo hội là dân Thiên Chúa. 
  • Giáo hội là thân thể Đức Kitô. 
  • Giáo hội đền thờ Chúa Thánh Thần. 
Những hình ảnh trên cho thấy Giáo hội là công trình của Chúa Ba Ngôi trong thực tại nhân loại.

* Giáo hội là dân Thiên Chúa. 
Chúng ta nhớ lại dân riêng của Chúa, dân Israel đã được Giavê yêu thương, tuyển chọn. Ngày nay, Giáo hội là một Israel mới cũng đang trên đường lữ thứ trần gian tiến về Đất hứa là Giêrusalem trên trời. Nếu như xưa kia dân riêng đã phản bội Giavê, thì ngày nay “dân Thiên Chúa” cũng không phải là những con người đặc tuyển, Giáo hội vẫn ôm ấp cả những người yếu đuối, tội lỗi, và có thể phản bội Thiên Chúa. Như Israel được Giavê yêu thương thế nào, thì ngày nay Giáo hội cũng được Người yêu thương và dẫn dắt, Thiên Chúa không bao giờ bỏ quên dân Người. Nếu như lịch sử của Israel như một trang tình sử giữa Giavê và dân riêng của Người, thì lịch sử Giáo hội cũng là mối tình thắm thiết giữa Đức Giêsu và Israel mới.

* Giáo hội là thân thể Đức Kitô. Đức Kitô là đầu, toàn thân thể được chia sẻ sức sống của đầu. Trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô diễn tả Giáo hội như là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô :
“Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,12-13).
 “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cũng đau. Nếu một bộ phận nào vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (12,26-27). 
Theo thánh Phaolô, mỗi chúng ta là một chi thể, là một Giêsu Kitô đang sống trong dòng lịch sử. Mặc dù chúng ta có những khả năng khác nhau, có những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau; nhưng đều được mời gọi hiệp nhất nên một. Sự thánh thiện hay tội lỗi của một người sẽ ảnh hưởng đến cả Giáo hội. Nhờ sự hiệp nhất này, chúng ta trở nên Đức Kitô cho thế giới. Nhờ việc chia sẻ Thánh Thể, chúng ta được liên kết với Đức Giêsu và hiệp nhất với nhau.

*Giáo hội là đền thờ Chúa Thánh Thần. Thánh Thần Thiên Chúa tuôn trào, và tiếp tục tuôn trào, không phải trên ngôi thánh đường bất động bằng vật chất, mà là trên ngôi thánh đường sống động bằng da bằng thịt, tức là những con người được Thánh Thần quy tụ gọi là Giáo hội. Thánh Tông đồ dân ngoại đã diễn tả rất sinh động ý tưởng này trong thư ngài gởi cho giáo đoàn Côrintô và Êphêsô:
“Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao ? Vậy ai phá hủy Đền thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền thờ ấy chính là anh em” (1Cr 3, 16-17).
 “Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí” (Ep 2,21-22).
Nên biết rằng, trước khi trở thành Kitô hữu, thánh Phaolô đã rất nhiệt tâm với Đền thờ Do Thái ở Giêrusalem, đền thờ này là điểm hội tụ của những ước mơ và hy vọng của dân tộc Israel .

Đối với thánh Phaolô, đền thờ Thiên Chúa không phải là công trình xây dựng vật chất, mà là chính cộng đoàn dân Chúa. Dân Thiên Chúa chính là nơi Người cư ngụ, là nơi Thánh Thần hiện diện và hoạt động.

c. Đức Maria, gương mẫu của Giáo hội và là mẹ Giáo hội

Chúng ta nhìn về Giáo hội qua gương mẫu Trinh Nữ Maria. Mẹ chính là thành phần ưu tuyển, là mẹ Giáo hội và là chính Giáo hội. Mẹ đã trở nên thánh thiện tuyệt với, không tỳ ố, không nếp nhăn, hoàn toàn chiến thắng mọi tội lỗi. Đó chính là niềm hy vọng, là đích điểm Giáo hội luôn hướng tới.

Đức Maria là Đấng “đầy ân sủng”. Mẹ đã hoàn toàn mở lòng cho Thánh Thần hoạt động. Mặc dù Mẹ không thể hiểu hết được Thiên Chúa hoạt động nơi Mẹ thế nào, nhưng Mẹ đã sẵn sàng xin vâng, cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa cho thế giới. Như vậy, Mẹ trở nên gương mẫu để Giáo hội cũng biết mở rộng lòng khiêm tốn để Thiên Chúa hoạt động, chữa lành, yêu thương và qua Giáo hội Ngài ban tặng Chúa Giêsu cho thế giới.

Qua Đức Maria, nhân tính và Thiên tính được kết hợp trong Đức Giêsu. Qua Giáo hội, nhân tính và Thiên tính cũng được kết hợp khi các phần tử nỗ lực trở nên giống Đức Kitô, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Truyền thống Công Giáo xác tín rằng vì vai trò duy nhất của Đức Maria giữa lòng nhân loại, nên sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, Mẹ được kết hợp với Thiên Chúa một cách trọn vẹn, không phải chịu cảnh thối nát của thân xác. Do đó, Giáo hội ban bố tín điều Đức Mẹ hồn xác về trời. Bằng cách thức hoàn toàn khác biệt với mọi người, Đức Maria được chia sẻ trọn vẹn vinh quang Phục Sinh của Đức Giêsu. Mẹ đã cho chúng ta niềm hy vọng rằng, một ngày kia, chúng ta cũng được chia sẻ vinh quang Phục Sinh ấy.

Chúng ta là một Giáo hội xinh đẹp, có gương mẫu tuyệt vời là Đức Maria, tuy nhiên, Giáo hội vẫn còn bị phân năm sẻ bảy, vẫn còn mang trong mình niềm khát vọng hiệp nhất.

3. Khát vọng hiệp nhất


Chúng ta tin rằng Đức Giêsu muốn thiết lập một Giáo hội duy nhất và Người là vị Mục tử nhân lành, Người muốn quy tụ các đàn chiên tản mác về một mối. Trong tiến trình hiệp nhất này, chúng ta đau đớn khi thấy Giáo hội đang bị chia rẽ.

a. Sự chia rẽ trong Kitô giáo

Một sự thật đau lòng là các Kitô hữu ngày nay còn đang chia rẽ nhau. Thân mình Đức Giêsu đang bị chia cắt thành hàng trăm mảnh, hàng loạt giáo phái ra đời và cũng tự xưng mình là Giáo hội. Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều nhóm Kitô hữu đã tách ra khỏi Giáo hội Công giáo, một Giáo hội có truyền thống từ các tông đồ, với các Giám mục kế vị, dưới sự hướng dẫn của Đức giáo hoàng, Giám mục Rôma, người kế vị thánh Phêrô, vị tông đồ trưởng.

Có nhiều lý do dẫn đến sự chia rẽ trong Kitô giáo : có khi do sự tranh luận về những nghi lễ, tín điều; có khi là những lý do tế nhị hơn có liên quan đến chính trị, quân sự, hoặc những xúc phạm, hiểu lầm... Thường thì những lý do trên hoà trộn vào nhau tạo nên sự chia rẽ đáng tiếc.

Những Giáo hội Kitô giáo ngày nay bao gồm : Công giáo, Chính Thống, Tin Lành (bao gồm nhiều giáo phái) và một số những giáo phái nhỏ khác. Mặc dù các Giáo hội Kitô giáo ngày nay không hợp nhất dưới quyền một vị lãnh đạo, nhưng chúng ta tìm cách để hiệp nhất với nhau hơn là chia rẽ, vì tất cả cùng diễn tả một tình yêu, một niềm tin vào Đức Giêsu. Trong những thập niên gần đây, phong trào Đại Kết đang phát triển mạnh. Công giáo, Tin Lành và Chính Thống đã bắt tay làm việc với nhau trên tinh thần xây dựng, hiểu biết và tôn trọng. Kết quả là một số Kitô hữu đã khám phá ra đức tin của mình có chung một truyền thống với nhau, tuy có những khác biệt về chi tiết, nhưng không phải vì thế mà không thể bắt tay nhau cộng tác làm việc.

Tuy chưa thể và cũng không thể xóa hết được những sự khác biệt, nhưng tiến trình đại kết là một việc làm tích cực thể hiện khát vọng hiệp nhất của Đức Giêsu. Tin mừng Gioan cho thấy sau bữa tiệc ly, Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha cho sự hiệp nhất, đó cũng chính là nền tảng cho sự hiệp nhất của Giáo hội :

“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này (các tông đồ) nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17, 20-21).

Lời cầu nguyện đó của Đức Giêsu cả hai ngàn năm nay Giáo hội vẫn coi như là một lệnh truyền, như một khát vọng cháy bỏng để Giáo hội cố gắng đạt tới. Bên cạnh nỗ lực hiệp nhất này, Giáo hội cũng phải đối diện với một thực tại phức tạp khác, đó là sự đa phức tôn giáo trên thế giới.

b. Những tôn giáo khác

Ngoài những người có niềm tin Kitô giáo, còn cả hàng tỷ người theo niềm tin tôn giáo khác, họ là những người Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và rất nhiều những tôn giáo địa phương, tôn giáo bộ lạc khác nữa. Những tôn giáo này có chứa đựng chân lý không ? Kitô giáo tương quan với những tôn giáo này như thế nào ? Họ có thấy mình cần được Thiên Chúa cứu độ ? …

Giáo hội khẳng định rằng Thiên Chúa chắc chắn đã tỏ lộ mình ra (dù không hoàn toàn) cách nào đó nơi những tôn giáo không phải là Kitô giáo này, đặc biệt là đối với Do Thái giáo và Hồi giáo, những tôn giáo có niềm tin độc thần; đồng thời Giáo hội tôn trọng sự thật Thiên Chúa đã đặt để trong những truyền thống tôn giáo của họ. Và như vậy, Kitô giáo cũng được chia sẻ rất nhiều những đức tính nhân bản, luân lý và truyền thống tâm linh nơi các tôn giáo lớn trên thế giới.

Tuy nhiên, người Công giáo chúng ta tin rằng mặc khải trọn vẹn và sự thật về Thiên Chúa đã được ban tặng cho con người qua Đức Giêsu Kitô. Qua Đức Kitô, nhân loại được cứu độ, và ngay cả những người ngoài Kitô giáo, nếu cứ theo lương tâm ăn ở ngay lành thì cũng sẽ được cứu độ, bởi vì Đức Giêsu đã sinh ra làm người và chết cho mọi người chứ không phải cho riêng biệt một ai. Thánh Phaolô diễn tả điều này trong thư ngài gởi cho ông Timôthy :

“Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người … Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng Cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,1-4).

Chỉ trên nền tảng này chúng ta mới có thể chân nhận và tôn trọng thực sự những giá trị tinh tuý nơi những truyền thống văn hóa, và tôn giáo của họ. Giáo hội xác tín rằng:

“Sự hiện diện và sinh hoạt của Thần Khí ảnh hưởng đến không những từng cá nhân mà còn cả xã hội và lịch sử, các dân tộc, các nền văn hóa và các tôn giáo... Lại nữa, chính Thần Khí, Đấng gieo ‘những hạt giống Lời’ hiện diện trong các tập quán và văn hóa khác nhau, chuẩn bị chúng được trưởng thành đầy đủ trong Chúa Kitô” (Gioan Phao lô II, Thông điệp Redemptoris Missio, 28.)

Với nỗ lực hội nhập văn hóa trong truyền giáo, Giáo hội tìm cách đối thoại với các tôn giáo như một phương thế hữu hiệu để rao giảng Tin mừng. Tuyên ngôn Dominus Jesus xác định:

“Đối thoại chắc chắn không thể thay thế, nhưng đúng hơn, đi kèm theo sứ vụ truyền giáo, hướng về “mầu nhiệm hiệp nhất” từ đó mà tất cả người nam và nữ, những kẻ được cứu chuộc, chia sẻ dù cách khác nhau, cùng một mầu nhiệm cứu độ trong Chúa Giêsu Kitô, nhờ Thần Khí của Người” (Thánh Bộ Đức Tin, Tuyên ngôn Dominus Jesus, số 2)

Như vậy, trong việc đối thoại, một mặt ta phải luôn trân trọng những gì là chân thiện mỹ nơi các tôn giáo, nhưng mặt khác ta không để lãng quên hay đánh mất căn tính của mình là đem Tin mừng cho các dân tộc. Công đồng Vaticanô II định hướng rõ ràng cho việc đối thoại liên tôn là cùng nhau khám phá và làm triển nở những yếu tố “chân lý và ân sủng do sự hiện diện tiềm ẩn của Thiên Chúa nơi mọi tôn giáo” ( Cđ. Vat II, Ad Gentes, số 9).

Việc đối thoại theo tinh thần của Công đồng Vaticano II phải đặt nền tảng trên mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Do đó không có gì ngoài tình liên đới sốt sắng và một tinh thần vô vị lợi thúc giục Giáo hội đối thoại với những người đang tìm kiếm chân lý trong tình yêu (Xc Ecclesia in Asia, số 29). Trong viễn cảnh này, Đức Gioan Phaolô II đã ngỏ lời với các thành viên của hội đồng đối thoại liên tôn:

“Việc đối thoại liên tôn trong một mức độ sâu xa hơn, luôn luôn là cuộc đối thoại cứu độ, bởi vì chủ tâm của nó là khám phá, làm sáng tỏ và hiểu rõ hơn cuộc đối thoại vĩnh cửu mà Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện với nhân loại” (Trích lại trong Nguyễn Thái Hợp, Đường vào thần học về tôn giáo, tr 47).

Để đạt đến một cuộc đối thoại như thế, chúng ta gặp không ít những thách đố trên bình diện cá nhân cũng như tập thể vì đã đụng chạm đến những vấn đề thiêng thánh là sự xác tín, là niềm tin. Cuộc đối thoại còn là cả một hành trình dài, đòi hỏi nhiều nỗ lực suy tư cũng như sự dấn thân thực tế.

Tuy nhiên, xin nhắc lại một yếu tố quan trọng là sức sống, là nguồn mạch của Giáo hội, đó là chính Thánh Thần, Đấng quy tụ nên Giáo hội.

3. Thánh Thần hoạt động trong Giáo hội qua dòng lịch sử


Thánh Thần tuôn tràn trên các môn đệ Đức Giêsu vào ngày Ngũ Tuần, cũng chính là Thánh Thần đang họat động trong Giáo hội hôm nay, cũng như xuyên suốt qua hai ngàn năm lịch sử. Trong dòng lịch sử thăng trầm, Thánh Thần vẫn luôn hiện diện trong Giáo hội cả khi Giáo hội thịnh vượng hay là tụt dốc. Thánh Thần luôn hướng dẫn những người lãnh đạo trong Giáo hội, giúp Giáo hội lắng nghe được tiếng của thời đại, mời gọi nhiều người nam nữ quảng đại hiến thân phục vụ.

Nhiều Kitô hữu xuyên qua các thời đại đã anh dũng lấy máu đào minh chứng niềm tin, nhiều vị thánh hiển tu, bác ái … Trang sử Giáo hội đã ghi lại cuộc đời các vị thánh, họ là những thành phần trong Giáo hội, đã đi trọn hành trình đức tin. Nhìn vào đời sống của các vị, chúng ta có thể khám phá ra sức sống mãnh liệt của Giáo hội xuyên suốt dòng lịch sử.

Vườn hoa Giáo hội gồm rất nhiều bông hoa ngạt ngào hương sắc, mỗi vị thánh mang một vẻ đẹp riêng. Chúng ta không thể liệt kê ra đây tất cả các thánh, cũng như không thể bắt chước tất cả các nhân đức của các vị. Chiêm ngưỡng các vị thánh để thấy được sự đa dạng, phong phú và thánh thiện của Giáo hội. Các ngài đã đóng trọn vai trò của mình và đi hết hành trình đức tin. Mỗi vị mỗi cách thức khác nhau, mỗi hoàn cảnh khác nhau : các thánh tử đạo khác với các thánh hiển tu, khác với các thánh lo việc bác ái…, nhưng tất cả các vị gặp nhau ở một điểm, đó là lòng yêu mến: Yêu mến Chúa, yêu mến Giáo hội và yêu mến tha nhân. Đó là những tấm gương sống động để chúng ta học đòi băt chước.

KẾT LUẬN


Để kết luận, chúng ta trở về với Tin mừng như điểm quy chiếu của Giáo hội. Trong các sách Tin mừng, chỉ thấy Tin mừng thánh Matthêu nhắc ba lần từ ngữ “Giáo hội” (Xc. Mt 16,18; 18,17). Tuy nhiên các sách Tin mừng đều cho thấy rằng Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ và muốn thành lập cộng đoàn của Người. Thánh Máccô còn muốn trình bày ngay từ lúc đầu khi kêu gọi bốn môn đệ tiên khởi (Mc 1,16), Người đã muốn thiết lập Giáo hội, để rồi từ nhóm nhỏ này, Người gầy dựng nhóm Mười Hai. Và rồi nhân rộng lên nữa, Người kêu gọi nhóm đông các môn đệ, nhưng nhóm Mười Hai không bị tách lìa hay đặt ở vị trí cao hơn, mà là được đặt nằm trong cộng đoàn môn đệ, vì tất cả cộng đoàn đều được xây dựng trên một khuôn mẫu tuyệt vời là Đức Kitô, và tất cả các môn đệ phải bước theo Người (Xc. Mc 10, 41 - 44).

Đặc biệt thánh Mátthêu còn cho chúng ta thấy Giáo hội chính là cộng đoàn các môn đệ sống theo tinh thần Bát Phúc (Mt 5, 1 -12). Giáo hội này mang trong mình sứ mạng truyền giáo theo lệnh truyền của Đức Giêsu (Mt 28, 19 - 20), sứ mạng này Giáo hội chỉ thực hiện được trong sức mạnh của Thánh Thần (Mt 10, 20).

Còn thánh Luca với Tin mừng thứ ba và sách Công Vụ Tông Đồ, cho chúng ta thấy Thánh Thần đã khai sinh ra Giáo hội, và Giáo hội đó được đặt trong dòng lịch sử cứu độ. Giáo hội chính là thời hoạt động của Thánh Thần.

Cuối cùng, Tin mừng thánh Gioan cho chúng ta cái nhìn chìm sâu trong tình huynh đệ, tình thầy trò; người môn đệ giữ vai trò đặc biệt trong việc hình thành và phát triển Giáo hội.

Quả thực, Giáo hội là một Israel mới, một dân mới được Thánh Thần quy tụ. Qua biến cố Ngũ Tuần, Thánh Thần đã tác động, thay lòng đổi dạ bao con người, biến họ nên những nhân tố sống động làm nên một Giáo hội đặc sủng, xinh đẹp, hiệp thông và phục vụ. Giáo hội này vừa hữu hình vừa vô hình, có phẩm trật và cũng mang chiều kích siêu việt.

Cuối cùng cũng cần nhắc lại rằng, dù sao Giáo hội cũng còn mang thân phận lữ hành, Giáo hội cần phải được thanh luyện luôn mãi. Giáo hội phải không ngừng nỗ lực để trở nên dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện sống động ở trần gian, để trở thành công cụ cứu độ của Chúa, và trở nên mối dây hiệp nhất giữa mọi Kitô hữu cũng như trong mối tương quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác.
Read More

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2018

THÁNH MẪU HỌC TỪ VATICANÔ II ĐẾN NAY

Thời sự Thần học - Số 65, tháng 08/2014, tr. 123-150

Salvatore M. Perrella, O.S.M.[1]


I. Công đồng Vaticanô II
  1.1. Những cuộc tranh luận
  1.2. Bản văn Công đồng: những tiêu chuẩn soạn thảo
  1.3. Bản văn Công đồng: nội dung
II. Sau Công đồng
  2.1. Những nền thần học mới
  2.2. Xét lại đạo lý cổ truyền
  2.3. Đức Maria trong Kinh Thánh
  2.4. Các tín điều
     2.4.1. Các tín điều về Đức Maria.
     2.4.2. Đọc lại các tín điều dưới viễn ảnh mới.
     2.4.3. Cuộc đối thoại đại kết
  2.5. Những đường hướng tiếp cận hiện đại
  2.6. Đức Maria trong Hội thánh ngày nay

Trong bài này, chúng tôi muốn trình bày những đường hướng của Thánh mẫu học[2] từ công đồng Vaticanô II đến nay. Trước hết, chúng ta hãy theo dõi những cuộc tranh luận trong giai đoạn chuẩn bị và nhóm họp Công đồng (1959-1965). Sau đó, chúng tôi sẽ điểm qua những vấn đề được nêu lên từ sau Công đồng cho đến nay.

I. Công đồng Vaticanô II


Ngày 25 tháng Giêng năm 1959, đức thánh cha Gioan XXIII tuyên bố triệu tập công đồng Vaticanô II. Khác với những Công đồng trước đây nhắm mục tiêu tín lý và kỷ luật, lần này Công đồng muốn tìm hiểu bản tính và sứ mạng của Hội thánh để đối thoại với thời đại.

Công đồng đã diễn ra qua ba giai đoạn: tiền chuẩn bị (25/1/1959 đến 5/6/1960); chuẩn bị (5/6/1960 đến 11/10/1962); cử hành (11/10/62 đến 8/12/1965).

1.1. Những cuộc tranh luận


Trong giai đoạn tiền chuẩn bị, đã có hơn 600 giám mục yêu cầu Công đồng quan tâm đến Đức Maria, bởi vì là một đề tài quan trọng liên quan đến mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô. Tuy nhiên, khi đúc kết các ý kiến, người ta đã thấy hai khuynh hướng khác nhau: một bên thì tiếp nối “Thánh mẫu học của vinh quang Đức Maria” cổ điển, yêu cầu định tín các chân lý về “Đức Mẹ đồng công cứu chuộc”, “Trung gian các ơn”, “Mẹ thiêng liêng của mọi tín hữu”[3]; bên kia thì yêu cầu chú ý đến Kinh Thánh cũng như đối thoại đại kết. Khuynh hướng thứ nhất được đặt tên là “quy Kitô” (christotypus), nghĩa là nhìn Đức Maria trong tương quan với Đức Kitô; khuynh hướng thứ hai được đặt tên là “quy Hội thánh” (ecclesiotypus)[4] nhìn Đức Maria trong tương quan với Hội thánh.

Thực ra vào những thập niên 50 của thế kỷ XX, người ta đã thấy sự chuyển hướng của Thánh mẫu học trong trào lưu canh tân thần học nhờ các phong trào Kinh Thánh, giáo phụ, phụng vụ, đại kết.

– Khuynh hướng cổ điển từ sau công đồng Trentô, dựa theo phương pháp diễn dịch, muốn đề cao những đặc ân của Đức Maria dựa trên chức vị “Mẹ Thiên Chúa”. Thánh mẫu học được nhìn song song với Kitô học: những tước hiệu của Mẹ Maria phản ánh những tước hiệu của Đức Kitô, chẳng hạn như: “Đồng công cứu chuộc” (Corredemptrix) song hành với “Cứu thế” (Redemptor), “Nữ Vương” (Regina) song hành với “Vua” (Rex).

– Khuynh hướng thứ hai chủ trương đi sát với Kinh Thánh hơn, tìm cách đưa Đức Maria vào trong Hội thánh, nhìn Người như một “kẻ đã tin” (K. Rahner), “tiêu biểu của Hội thánh” (O. Semmelroth).

Uỷ ban chuẩn bị đã đúc kết các ý kiến của các giám mục thành nhiều lược đồ, sửa đi sửa lại. Vào năm 1962, uỷ ban thần học đã đệ trình các nghị phụ lược đồ mang tựa đề De beata Maria Virgine Matre Dei et Matre hominum (Đức Trinh nữ Maria, Mẹ của Thiên Chúa và Mẹ của loài người), dựa theo lối tiếp cận cổ truyền. Tuy nhiên, tại Công đồng, một số nghị phụ đã yêu cầu bàn về Đức Maria trong lược đồ về Hội thánh, thay vì soạn một văn kiện độc lập. Một cuộc tranh luận đã diễn ra giữa hai nhóm ngang nhau. Cuối cùng, đức thánh cha Phaolô VI quyết định cho bỏ phiếu để lấy đa số. Cuộc bỏ phiếu diễn ra ngày 29/10/1963 đã đưa đến kết quả như sau: trên tổng số 2193 phiếu, thì 1114 tán thành bàn về Đức Maria trong lược đồ về Hội thánh, 1074 muốn bàn trong một lược đồ riêng, 7 phiếu vô hiệu. (Như vậy số phiếu chênh lệch giữa đôi bên là 40). Một tiểu ban đã được cử ra để soạn lại văn kiện. Vào đầu khóa thứ ba (cuối tháng 9 năm 1964), các nghị phụ đã nhận được lược đồ mới, trong đó Đức Maria được đặt ở chương cuối của lược đồ về Hội thánh, tựa như chóp đỉnh. Tựa đề của chương VIII là “De Beata Maria Virgine Deipara in mysterio Christi et Ecclesiae” (Đức Trinh nữ Maria Thiên mẫu trong mầu nhiệm Đức Kitô và Hội thánh). Sau những cuộc tranh luận, các nghị phụ đã bỏ phiếu với kết quả như sau: trên tổng số 2091 phiếu thì 1559 thuận, 10 chống, 521 thuận với yêu cầu sửa đổi (iuxta modum), 1 vô hiệu. Bản văn được trả về cho uỷ ban để sửa đổi. Sau cùng, ngày 21/11/1964, các nghị phụ đã bỏ phiếu toàn bộ hiến chế Lumen gentium: trên tổng số 2156 vị hiện diện, 2151 thuận và 5 chống. Cùng ngày hôm đó, đức Phaolô VI ban hành hiến chế và tuyên bố Đức Maria là Mẹ của Hội thánh.

1.2. Bản văn Công đồng: những tiêu chuẩn soạn thảo


Bản văn được soạn thảo dựa trên bốn tiêu chuẩn: Kinh Thánh, nhân văn, đại kết, mục vụ[5].

– Kinh Thánh. Bản văn được soạn thảo dựa theo tư tưởng Kinh Thánh, được giải thích trong truyền thống Giáo hội. Khi bàn về mầu nhiệm Đức Maria (số 55-59), bản văn cho thấy mầu nhiệm của Chúa Cứu thế được tỏ lộ dần dần trong lịch sử cứu độ, cũng như những hình ảnh về Đức Maria trong Cựu ước (tựa như: thiếu nữ Sion, nữ tì Thiên Chúa), nhằm nêu bật vai trò của Người trong kế hoạch Thiên Chúa, hơn là dừng lại ở vài bản văn để bênh vực các tín điều.

– Nhân văn. Bản văn chú trọng đến giá trị của nhân vị, của sự tự do trong việc đáp trả chương trình của Thiên Chúa, và cũng không quên cảm nghiệm đêm tối của đức tin. Lối trình bày này cho thấy Đức Maria gần gũi với chúng ta hơn là phương pháp cổ điển (đề cao các đặc ân của Mẹ).

– Đại kết. Trong quá khứ, Thánh mẫu học đã trở thành đề tài tranh cãi giữa Công giáo và Cải cách (mater divisionis). Công đồng cố gắng tìm cách để Đức Maria trở thành một yếu tố liên kết các Kitô hữu (mater unionis), nhờ việc theo sát tư tưởng Kinh Thánh về vai trò của Người trong chương trình cứu độ.

– Mục vụ. Công đồng không muốn trình bày một thiên khảo luận về Thánh mẫu học nhưng tìm cách giúp các tín hữu nuôi dưỡng đức tin và lòng đạo đức khi chiêm ngắm một mẫu gương tuyệt vời của đời sống Kitô hữu.

1.3. Bản văn Công đồng: nội dung


Tựa đề của chương VIII (“Đức Trinh nữ Maria Thiên mẫu trong mầu nhiệm Đức Kitô và Hội thánh”) đã muốn nói lên sự tổng hợp hai khuynh hướng Thánh mẫu học trong Công đồng, bằng cách đặt Đức Maria trong tương quan với Chúa Kitô và với Hội thánh. Có thể nói được là “từ khóa” giải thích toàn bản văn là “mầu nhiệm”, đã được dùng làm tựa đề cho chương đầu của hiến chế. “Mầu nhiệm”, theo thánh Phaolô (x. Cl 1,26; Ep 3,9; Rm 16,25), được hiểu về kế hoạch của Thiên Chúa, trước đây được giấu ẩn và nay được mạc khải nơi Đức Kitô. Đức Maria được nhìn trong viễn tượng của “mầu nhiệm” ấy, nghĩa là trong tương quan với Đức Kitô và với Hội thánh: người được Thiên Chúa tuyển chọn để phục vụ Đức Kitô (chức phận môn đệ, nữ tì, mẹ của Đấng Mêsia) và phục vụ Hội thánh.

Tuy là một chương của hiến chế Lumen gentium, nhưng chương VIII có một bố cục gần như một văn kiện biệt lập. Điều này dễ hiểu, bởi vì chương này được soạn thảo do một tiểu ban riêng biệt, khác với uỷ ban thần học soạn thảo hiến chế. Nội dung gồm 17 số (từ 52 đến 69), được phân làm 5 đoạn.

1) Dẫn nhập (số 52-54). Đức Maria được đặt trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa: khi đến thời viên mãn, Ngôi Lời đã nhập thể trong lòng Đức Trinh nữ do quyền năng của Thánh Thần, ngõ hầu loài người được trở nên con cái Thiên Chúa (x. Gl 4,4-5). Sự hạ cố của Thiên Chúa được tiếp nối trong Hội thánh, nơi mà các phần tử, ngoài việc kết hợp với Đức Kitô, còn liên kết với tất cả các thánh và tôn kính Thánh mẫu. Như vậy, một đàng Đức Maria được nhìn trong tương quan với Chúa Ba Ngôi, đàng khác cũng nêu bật địa vị của Người trong Hội thánh (nền tảng của việc tôn kính đặc biệt).

2) Đoạn thứ hai (số 55-59) bàn về vai trò của Đức Maria trong lịch sử cứu độ. Dựa theo các bản văn Kinh Thánh, Công đồng trình bày sự góp phần của Người trong việc phục vụ Chúa Cứu thế từ lúc nhập thể đến lúc hiến mình trên thập giá, qua những chặng đường chính của cuộc đời Đức Giêsu: lúc truyền tin (số 56), thời thơ ấu (số 57), đời công khai (số 58), cuộc phục sinh và lên trời (số 59). Đức Maria luôn gắn bó chặt chẽ với Đức Kitô như là người mẹ và tôi tớ, bằng sự đồng thuận của đức tin (số 56). Người hoàn toàn hiến thân phục vụ Đức Kitô, chấp nhận làm mẹ thể lý của Chúa và mẹ tinh thần của các môn đệ (số 58), khi khẩn nài tại Cana và khi đi theo làm môn đệ (số 58), khi âu yếm chịu đau khổ và hiến dâng Con trên thập giá và chấp nhận làm mẹ của người môn đệ yêu dấu (số 58). Ở số 56 và 61, Công đồng khẳng định rằng sự liên kết giữa Đức Kitô và Mẹ Maria diễn ra do ý định của Thiên Chúa. Một đàng, chương trình cứu độ của Thiên Chúa mang tính ban không (ân huệ), đàng khác, Thiên Chúa cũng muốn cho con người đáp trả cách tự do, ý thức và yêu mến. Điều này được áp dụng nơi Đức Maria. Tính cách ban không được tỏ lộ nơi đặc ân vô nhiễm nguyên tội (số 53, 59) cũng như ơn được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Phục sinh qua việc đưa hồn xác về trời. Sự hợp tác được diễn ra qua sự đáp trả bằng đức tin (số 58). Tóm lại, ở đoạn này, Đức Maria được nhìn trong tương quan với công trình cứu độ của Đức Kitô, dưới những hình ảnh “thiếu nữ Sion”, “nữ tì Thiên Chúa”, “Thân mẫu Đấng Cứu thế”.

3) Đoạn thứ ba, - về tương quan giữa Đức Maria và Hội thánh (số 60-65) -, mở đầu với việc khẳng định đạo lý về Đức Kitô là trung gian duy nhất (x. 1Tm 2,5-6). Trong bối cảnh này, Công đồng bàn đến vai trò của Đức Maria đối với nhân loại, đó là cộng tác với Chúa Kitô (số 61) và chuyển cầu cho sự thánh hoá những kẻ đã được cứu chuộc (số 62)[6].

Tuy nhiên, địa vị độc nhất của Đức Maria trong chương trình cứu độ không đặt Người ra khỏi Hội thánh. Người thuộc về Hội thánh như là một phần tử ưu tú (số 53), như là mẫu gương các nhân đức (số 53, 63, 65), người mẹ rất yêu dấu (số 65). Dựa theo tư tưởng của các giáo phụ, Công đồng đã coi Đức Maria là “biểu trưng” (typus) của Hội thánh, dù xét theo điều kiện của loài thụ tạo cần được cứu rỗi (số 53), dù xét theo địa vị vinh hiển, bởi vì Người là hình ảnh và hoa trái đầu mùa của Hội thánh sẽ được hoàn tất trong tương lai (số 68). Đối lại, Hội thánh cần trông lên Đức Maria để chu toàn sứ mạng của mình: là mẹ vì sinh ra con cái thiêng liêng nhờ tác động của Thánh Thần, là trinh nữ vì duy trì niềm tin tinh tuyền vào Hôn phu (số 64). Vì thế, càng chiêm ngắm Đức Maria, Hội thánh càng ý thức hơn sứ mạng của mình là phục vụ Chúa Kitô (số 65).

4/ Đoạn thứ bốn được dành cho “việc tôn kính Đức Maria trong Hội thánh” (số 66-67).

Công đồng giải thích: bản chất và nền tảng của việc tôn kính, tinh thần phải tuân giữ trong việc giảng thuyết cũng như trong việc thực hành. Lòng tôn kính Đức Mẹ không phải là cái gì ngoại lai nhưng phát sinh từ chính mạc khải. Việc tôn kính Đức Mẹ, đặc biệt là trong khung cảnh của phụng vụ, gắn liền với biến cố Chúa Cứu chuộc; nó biểu lộ lòng biết ơn đối với Chúa. Vì thế, việc tôn kính Đức Mẹ tuỳ thuộc vào việc tôn thờ Chúa, và có sự khác biệt giữa hai bên (số 66).

5/ Đoạn cuối cùng của chương VIII (Đức Maria, dấu chỉ của niềm hy vọng chắc chắn và của niềm an ủi của dân Chúa trên đường lữ hành) muốn giới thiệu Thân mẫu của Chúa Giêsu như là dấu chỉ và biểu tượng cho niềm hy vọng cánh chung.

Đức Maria là một dấu lạ vĩ đại (signum magnum: Kh 12,1), được Chúa Cha ban cho những kẻ được Đức Kitô cứu chuộc, như là niềm an ủi cho Hội thánh, giữa cuộc đời lữ thứ đầy thử thách. Hội thánh được mời gọi nhìn lên Đức Maria trên trời như hình ảnh của tương lai vĩnh cửu, để tìm thấy ánh sáng, sự an ủi, niềm vui (số 68).

Trong số cuối cùng (số 69), Công đồng bày tỏ sự hiệp thông, hân hoan và biết ơn đối với các giáo hội ngoài Công giáo cũng bày tỏ lòng tôn kính với Thân mẫu của Chúa Giêsu, đặc biệt là nơi các Giáo hội Đông phương (x. Sắc lệnh về sự hợp nhất Unitatis redintegratio, số 15)[7].

II. Sau Công đồng


Sau Công đồng, Thánh mẫu học đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm, không những giống như các môn thần học khác, nhưng còn vì gắn liền với lòng đạo đức bình dân kính Đức Mẹ. Chúng tôi sẽ điểm qua những biến chuyển trong lãnh vực thần học cũng như trong các lãnh vực đạo đức.

2.1. Những nền thần học mới


Vào những thập niên 70 của thế kỷ XX, nhiều nền thần học mới đã ra đời và cũng sớm tan. Người ta tìm một ngôn ngữ mới để truyền đạt đức tin cho thời đại hôm nay, nhưng lý tưởng này không dễ dàng gì đạt được.

Về phía Tin lành, nổi bật nhất là “thần học về sự trần tục hóa” (theology of secularization), “thần học về cái chết của Thiên Chúa” (theology of the death of God), “thần học nữ quyền” (feminist theology). Về phía Công giáo là “thần học chính trị” (political theology), “thần học về các thực tại trần thế” (theology of earthly realities). Nhưng có lẽ luồng tư tưởng ảnh hưởng sâu rộng hơn cả là “thần học giải phóng” (liberation theology) tại châu Mỹ Latinh, với những suy tư về vai trò của Đức Maria, biểu tượng của sự giải phóng người nghèo (điển hình qua kinh Magnificat), một phụ nữ dám dấn thân cho tha nhân (chứ không phải là một phụ nữ thuỳ mị, quanh quẩn với chuyện nội trợ). Vào lúc đầu, thần học giải phóng đã gặp nhiều vấn nạn từ phía Tòa thánh (vì bị tố cáo là nhiễm mùi Mácxít), nhưng dần dần đã được hàng giám mục tại lục địa này nhìn nhận giá trị và đưa vào đường hướng mục vụ của mình.

Dù sao, bầu khí chung của thần học vào lúc ấy là viết lại các sách thần học theo lối tiếp cận mới, vừa muốn trung thành với Kinh Thánh hơn, vừa muốn đi sát với những thực tại văn hóa xã hội hơn.

2.2. Xét lại đạo lý cổ truyền


Cách riêng, vào những năm liền sau Công đồng, Thánh mẫu học đã trải qua một cuộc khủng hoảng do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Một số người cho rằng công đồng Vaticanô II không phải là đích điểm mà chỉ là khởi điểm của một cuộc thay đổi lòng tin và cuộc sống Kitô hữu. Đang khi ngoài xã hội, các cuộc nổi loạn của sinh viên vào những năm 1967-68 đã làm lung lay nhiều định chế chính trị giáo dục, thì trong Giáo hội cũng có những trào lưu thách thức quyền bính Giáo hội trong lãnh vực đức tin và kỷ luật. Một trường hợp tiêu biểu là luồng chống đối thông điệp Humanae vitae của đức Phaolô VI (25/7/1968). Trong bối cảnh đó, Thánh mẫu học cũng trải qua một cuộc khủng hoảng kéo dài suốt mười năm từ khi bế mạc Công đồng. Ít người để ý đến những đường hướng canh tân của chương VIII, mà chỉ muốn tẩy chay những tập tục “tiền công đồng” trong đó có những việc đạo đức bình dân (chẳng hạn lần chuỗi Mân côi). Điều trầm trọng hơn nữa là các tín điều cổ truyền về Đức Maria cũng bị đánh dấu hỏi.

Những nguyên nhân gây ra khủng hoảng Thánh mẫu học khá phức tạp, gắn liền với khung cảnh xã hội. Những nguyên nhân chấm dứt cuộc khủng hoảng cũng không dễ giải thích. Dù sao, chúng ta nên ghi nhận những văn kiện quan trọng của huấn quyền trong giai đoạn này:

– Đức Phaolô VI: tông huấn Signum magnum, được ban hành nhân dịp kỷ niệm 50 năm Fatima (13/5/1967); Kinh Tin kính của Dân Chúa (30/6/1968, bế mạc Năm đức tin); tông huấn Marialis cultus (2/2/1974).

– Đặc biệt là đức Gioan Phaolô II đã đẩy mạnh những suy tư về vai trò của Đức Maria trong chương trình cứu độ (thông điệp Redemptoris mater 25/3/1987) cũng như cổ động những thực hành sùng kính Đức Mẹ.

Hai văn kiện Marialis cultus và Redemptoris mater không những đào sâu đạo lý của Công đồng nhưng còn vạch ra bốn tiêu chuẩn cho cuộc canh tân Thánh mẫu học: a) dựa vào Kinh Thánh;

b) hòa hợp với phụng vụ; c) mở rộng đến chiều hướng đại kết; d) lưu tâm đến văn hóa thời đại. Riêng đối với tiêu chuẩn thứ bốn, tông huấn Mulieris dignitatem (Phẩm giá phụ nữ, 15/8/1988) của đức Gioan Phaolô II đã muốn trả lời cho những yêu sách chính đáng của phong trào phụ nữ hiện đại.

Những lần can thiệp của huấn quyền đã thúc đẩy các nhà thần học chú ý hơn đến Đức Maria, một nhân tố không phải là thứ yếu của đức tin Kitô giáo. Thánh mẫu học dần dần lại được đưa vào giảng dạy ở các phân khoa thần học, và được nhìn dưới nhiều tương quan: với Chúa Ba Ngôi, với Đức Kitô, với Hội thánh, với nhân học[8].

Chúng ta hãy theo dõi cuộc canh tân Thánh mẫu học từ những góc độ khác nhau: nghiên cứu Kinh Thánh, lịch sử tín điều, đối thoại đại kết, hội nhập văn hóa.

2.3. Đức Maria trong Kinh Thánh


Cũng như những ngành thần học khác, Thánh mẫu học cần phải dựa vào Kinh Thánh như nguồn mạch nền tảng. Thực ra, trong quá khứ, người ta cũng tìm trong Kinh Thánh những đoạn văn minh chứng những đặc ân của Đức Maria; nhưng đó là lấy Kinh Thánh để bổ túc cho đạo lý thay vì để cho đạo lý dựa theo Kinh Thánh. Điều này hàm ngụ rằng có nhiều phương pháp sử dụng Kinh Thánh.

Các bản văn Tân ước nói về Đức Maria cách trực tiếp thì không nhiều lắm: khoảng chừng 150 câu, rải rắc trong bốn cuốn Tin Mừng và sách Công vụ Tông đồ. Tuy nhiên, nếu các đoạn văn ấy được đọc trong bối cảnh của Cựu ước và những chú giải của Hội thánh tiên khởi, thì ta đã được một bức chân dung về vai trò của Đức Maria trong chương trình của Thiên Chúa.

Áp dụng phương pháp phê bình lịch sử, điều đầu tiên cần lưu ý là Tân ước không viết một tiểu sử về cuộc đời Chúa Giêsu, và lại càng không nhằm kể lại cuộc đời của Đức Maria. Vì thế cần phải đọc các bản văn trong viễn cảnh của người viết.

Theo các nhà chú giải, tiến trình thành hình các sách Phúc Âm đã trải qua ba giai đoạn sau đây:
  • giai đoạn sự kiện (những lời nói và việc làm của Đức Giêsu);
  • giai đoạn thông truyền các sự kiện (kèm theo việc giải thích ý nghĩa của chúng dưới ánh sáng đức tin);
  • giai đoạn sáng tác, trong đó mỗi tác giả thuật lại các biến cố theo cái nhìn thần học của mình.
Các bản văn của sách Phúc Âm thuộc về giai đoạn thứ ba, thuật lại câu chuyện về Đức Giêsu dưới ánh sáng của cuộc Tử nạn và Phục sinh. Sách Phúc Âm được viết để công bố một “Tin Mừng”, đó là Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ cho nhân loại nhờ Đức Giêsu. Sách Phúc Âm không chủ tâm đề cao Đức Giêsu như một siêu nhân giống như các huyền thoại của các tôn giáo khác, vì thế không dừng lại ở các chi tiết ly kỳ của cuộc đời của nhân vật ấy. Mục tiêu của sách Phúc Âm là giúp các độc giả tin vào Đấng mang lại ơn cứu độ. Nhiều người muốn đi từ sách Phúc Âm (giai đoạn thứ ba) và quay ngược trở về các sự kiện (giai đoạn thứ nhất), nhưng không đạt được kết quả mong muốn. Nếu các sách Phúc Âm không cung cấp nhiều dữ liệu để viết một tiểu sử về Đức Giêsu, thì mong gì sẽ tìm được dữ liệu về tiểu sử Mẹ Maria?

Tân ước chỉ để lại vài bức tranh rời rạc về Đức Maria. Những bản văn ấy nói lên điều gì?

Dữ kiện chắc chắn nhất của Tân ước về Đức Maria là: đây là một phụ nữ có thực, tên là Maria (Mc 6,3; Mt 1,16.18; Lc 1,27.30; Cv 1,14); bà là mẹ của Đức Giêsu. Ngoại trừ việc sinh hạ đồng trinh Người Con của Thiên Chúa (Mt 1,18-25; Lc 1,26-38), Tân ước trình bày cho thấy chân dung của Đức Maria như một phụ nữ sống đời bình thường (khác với các thần thoại) giữa lòng dân tộc, với đầy tình người, quan tâm đến tha nhân. Người là một phụ nữ biết suy tư, lắng nghe, hỏi han, lo lắng cho người khác (x. cuộc thăm viếng bà Elizabeth, tiệc cưới Cana), một con người sống lòng tin.

Trong “Tin Mừng thơ ấu”, Matthêu và Luca cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin khác. Tuy phát xuất từ những nguồn khác nhau, nhưng cả hai đều có những điểm chung: Đức Giêsu thuộc dòng dõi vua Đavít (Mt 1,16.20; Lc 1,27; 2,25); việc thụ thai trinh khiết (Mt 1,18-25; Lc 1,26-38; 2,6-7); sự can thiệp của Thánh Thần (Mt 1,18.20; Lc 1,35); việc nhấn mạnh đến sự trinh khiết của Đức Maria (Mt 1,16; Lc 1,27); cuộc hôn nhân với thánh Giuse (Mt 1,16; Lc 1,27: 2,25); việc đặt tên Giêsu do lệnh trời (Mt 1,21; Lc 2,11); Đức Giêsu là đấng cứu vớt muôn dân (Mt 1,21; Lc 2,11); Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem (Mt 2,5; Lc 2,11); Đức Giêsu trải qua thời thơ ấu tại Nadarét cùng với Đức Maria và thánh Giuse (Mt 2,23; Lc 2,39).

Tuy được Thiên Chúa tuyển chọn đặc biệt, nhưng Đức Maria cũng không tránh khỏi những giây phút căng thẳng khi sống bên cạnh mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người. Mặc dù Đức Giêsu chấp nhận sống trong gia đình của Đức Maria như một người con thảo hiếu (Lc 2,16-19.48-50), nhưng bà mẹ cảm thấy mình không thể nào chiếm hữu được người con ấy bởi người con này đã hiến dâng trót đời mình cho Thiên Chúa (Lc 2,49). Truyền thống Tin Mừng không giấu diếm mối tương quan khó khăn giữa Chúa Giêsu với thân mẫu trong thời kỳ hoạt động công khai (Mc 3,20-21.31-35 ss; Lc 11,27-28; x. Ga 7,1-13).

Mặt khác, các bản văn Kinh Thánh đều cho thấy Đức Maria luôn có mặt ở những biến cố trọng đại của công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu:
  • Lúc Nhập thể, khi thời gian tới hồi viên mãn, do tác động huyền nhiệm của Thánh Thần, Đức Maria đã sinh hạ Con của Đấng Tối cao làm người.
  • Trong mầu nhiệm Vượt qua, khi Đức Giêsu hoàn tất công cuộc cứu chuộc bằng sự tự huỷ, thì Đức Maria hiện diện như người Nữ của “giờ” của Chúa (Ga 19,25-27).
  • Vào lúc khai nguyên của Hội thánh, Đức Maria, “thân mẫu của Chúa” (Cv 1,14) đã hiện diện với các tông đồ tại nhà Tiệc ly, như là ký ức và bà mẹ của “biến cố Đức Kitô”, khởi điểm của Hội thánh. Người ở “trong” và “với” Hội thánh.
Người là mẫu gương của “kẻ đã tin” (Lc 1,45), luôn nghiền ngẫm Lời Chúa (Lc 2,19.51), sẵn sàng luôn để cho Thánh Thần hướng dẫn.

Việc trở về Kinh Thánh không chỉ giúp cho công tác suy tư thần học có nền tảng vững chắc, nhưng còn góp phần cho việc đối thoại với các Giáo hội Cải cách.

2.4. Các tín điều


Như vừa nói, các bản văn Tân ước không chủ ý kể lại tiểu sử của Chúa Giêsu (và của Đức Maria). Đúng hơn, đó là chứng tích của niềm tin của Hội thánh nguyên thuỷ. Hiểu như vậy, phải nhìn nhận rằng những đạo lý cốt lõi của Kitô giáo liên quan đến Đức Maria đã được hàm chứa trong Kinh Thánh rồi.

Theo gương Đức Maria đã nghiền ngẫm Lời Chúa để hiểu biết kế hoạch của Thiên Chúa, Hội thánh trải qua dòng thời gian cũng đào sâu kho tàng mạc khải để hiểu rõ hơn mạc khải của Thiên Chúa, cách riêng để đáp ứng những thách đố đức tin của mỗi thời đại. Đó là ý nghĩa của những “tín điều” mà Hội thánh tuyên xưng, như công đồng Vaticanô II giải thích trong hiến chế Dei verbum (về mạc khải) số 8. Khi giải thích các tín điều, cần phân biệt hai khía cạnh: a) nội dung của tín điều thì không thể thay đổi bởi vì gắn liền với mạc khải của Thiên Chúa; b) hình thức phát biểu thì lệ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử. Vì thế, tuy vẫn nắm chắc nội dung tín điều, nhưng thần học cố gắng tìm những cách thức diễn đạt đáp ứng với những đòi hỏi của mỗi thời đại. Đó cũng là điều xảy ra vào những năm sau Công đồng.

2.4.1. Các tín điều về Đức Maria


Trải qua hai mươi thế kỷ, Giáo hội đã công bố bốn tín điều về Đức Maria: Mẹ Thiên Chúa, trinh khiết, vô nhiễm nguyên tội, hồn xác lên trời.

– Bốn tín điều này có thể phân ra làm hai nhóm: a) hai tín điều “Mẹ Thiên Chúa” và “Trinh khiết” gắn liền với mầu nhiệm Đức Kitô, và đã có lịch sử lâu đời; b) hai tín điều “Vô nhiễm nguyên tội” và “Hồn xác lên trời” liên quan đến bản thân của Đức Maria, và mới được tuyên bố gần đây (thế kỷ XIX và XX).

– Nhìn lại lịch sử thành hình bốn tín điều, chúng ta có thể thêm một nhận xét khác. Hai tín điều đầu tiên đã được tuyên xưng bởi Hội thánh bất phân ly, nghĩa là trước khi có những chia rẽ giữa Đông và Tây, giữa Công giáo và Tin lành. Ngoài ra, hai tín điều đầu tiên đặt trọng tâm nơi công trình cứu chuộc. Hai tín điều cận đại được công bố bởi các Giáo hoàng, thủ lãnh của Giáo hội Công giáo, mà thẩm quyền không được Giáo hội Chính thống và các Giáo hội Cải cách nhìn nhận.

– Dựa trên sự liên hệ với Lời Chúa, cha René Laurentin còn đưa ra một lối phân chia khác, thành ba cấp[9]: a) những tín điều “Kinh Thánh”, nghĩa là dựa trên bản văn Kinh Thánh (hai tín điều đầu tiên); b) những tín điều “gần đây” được đức giáo hoàng công bố sau nhiều cuộc tranh luận thần học lâu dài (hai tín điều “vô nhiễm nguyên tội” và “hồn xác lên trời”); c) những đạo lý chưa được định tín chính thức, nhưng đã được huấn quyền thông thường và phổ quát đề nghị (sự môi giới thiêng liêng của người mẹ; sự hợp lệ của việc tôn kính Đức Mẹ trong phụng vụ và kinh nguyện).

2.4.2. Đọc lại các tín điều dưới viễn ảnh mới

Các tín điều đã ra đời vào những hoàn cảnh xã hội và lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, các đức giáo hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II đã đọc lại các tín điều ấy một cách xuyên suốt nhờ lối tiếp cận thần học của hiến chế Lumen gentium: đặt trong viễn ảnh của mầu nhiệm Đức Kitô và Hội thánh, vừa nêu bật tính cách ân điển của Thiên Chúa, vừa đề cao vai trò đáp trả về phía con người.

a) Chức Thiên mẫu là một đặc ân của Thiên Chúa, nhưng đã đòi hỏi người hiền mẫu và tôi tớ dấn thân vào công trình cứu độ của Đức Kitô để hình thành cộng đồng những kẻ được Chúa cứu chuộc. Đức Maria đã sống thiên chức làm mẹ Đấng Cứu thế với lòng tin-cậy-mến, cùng với tinh thần phục vụ. Đức Maria trở thành mẫu gương của Hội thánh trong công tác tông đồ, nghĩa là sứ vụ làm mẹ sinh ra những con cái mới cho Nước Thiên Chúa.

Công đồng Êphêsô gắn liền tín điều Thiên mẫu với việc tuyên xưng mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể; nhưng ngày nay, chúng ta cũng có thêm rằng tín điều này cũng tuyên dương phẩm giá của con người được tái sinh nhờ tình yêu của Chúa Cứu thế.

b) Sự trinh khiết trọn đời của Đức Maria không chỉ nói lên sự kiện Người tận hiến toàn thân để phục vụ Đấng Emmanuel, nhưng cũng là sự tuyên xưng thiên tính của Đức Giêsu. Thật vậy, những trào lưu cận đại phủ nhận đức trinh khiết của Đức Maria thường cũng chỉ nhìn Đức Giêsu như một con người bình thường. Hiến chế Lumen gentium muốn cho tín điều này trở nên khuôn mẫu cho Hội thánh biết giữ vững đức tin nguyên tuyền, giống mối tình chung thuỷ của hiền thê đối với Hôn phu độc nhất là Đức Giêsu. Đức Gioan Phaolô II còn muốn mở rộng những suy tư đến toàn thể lịch sử cứu độ[10]: sự “trinh khiết phong nhiêu” của Đức Maria đã được tiên báo ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh (“đất còn trinh”, St 2,4b-7); được chuẩn bị nơi những phụ nữ son sẻ trở thành mẹ; được diễn tả nơi thập giá (“Đức Kitô trinh khiết đã ký thác môn đệ trinh khiết cho người mẹ trinh khiết”, theo kiểu diễn tả của các giáo phụ); và mang theo nhiều giá trị Tin Mừng cho thời đại hôm nay (tự do nội tâm, tôn trọng tha nhân, quan tâm đến các giá trị thiêng liêng, chiều kích cánh chung, tình yêu và tôn trọng thiên nhiên).

c) Tín điều vô nhiễm nguyên tội được Giáo hội tuyên xưng sau nhiều thế kỷ tranh luận, muốn nói lên rằng: ơn cứu chuộc phổ quát của Đức Kitô vượt lên biên cương của thời gian; Đức Maria cũng cần được cứu chuộc, đồng thời Người đã được Thiên Chúa trang điểm với vẻ đẹp thánh thiện độc nhất vô nhị. Tín điều này nói lên khả năng lựa chọn tự do của con người. Cần phân biệt hai điều: khả năng phạm tội và thực sự phạm tội. Đức Maria chia sẻ thân phận chung của loài người, nghĩa là có thể phạm tội; nhưng Người đã không phạm tội, bởi vì ý muốn của Người hoàn toàn hòa đồng theo ý Chúa. Đức Maria chứng tỏ tình trạng “có thể không phạm tội” (khác với điều kiện “không có thể phạm tội”). Trên thực tế, đây là một ân huệ của Thiên Chúa, nhờ quyền năng của Đức Kitô Đấng đã chiến thắng tội lỗi: Thánh Thần đã ban cho Người được thông dự vào sự chiến thắng ấy. Hội thánh ca ngợi công trình Chúa Ba Ngôi nơi ân huệ này: tình yêu của Chúa Cha, ơn cứu chuộc của Đức Kitô, ân huệ bao phủ của Thánh Thần. Tín điều này trở thành nguồn tin tưởng và hy vọng cho Dân Chúa. Đức Maria “không mắc tội tổ tông truyền” có nghĩa là Người không chịu ảnh hưởng tiêu cực của dòng dõi nhân loại; ngược lại, Người khai mở một tình liên đới mới, với một dòng dõi mới của những kẻ được tái sinh làm con Thiên Chúa. Người trở nên khuôn mẫu cho Hội thánh, hiền thê không tì ố của Đức Kitô, sống giữa thế gian tội lỗi nhưng không vướng mắc tội lỗi, nhờ ân sủng của Chúa.

d) Tín điều “Đức Maria được đưa lên trời” muốn nói rằng: Người đã chia sẻ cái chết “trong Đức Kitô” cho nên cũng được thông dự vào sự phục sinh của Chúa. Người trở nên dấu chỉ hy vọng cho các phần tử Hội thánh cũng sẽ được chia sẻ ơn cứu độ toàn diện do Chúa ban.

Trong việc diễn tả niềm tin này, Giáo hội sử dụng những ngôn ngữ lấy từ những khuôn mẫu mà Kinh Thánh dành cho sự kết liễu cuộc đời của người công chính:
  • “âm ti” (sheol), cõi thinh lặng dưới lòng đất dành cho những người chết (x. Tv 6,5; 88,10; Lc 16,19-21).
  • “cất về trời” hoặc “đưa lên trời” mà không phải trải qua cái chết, giống như ông Enoch và ông Êlia (x. St 5,24; 2V 2,1-11), và những người được Chúa cứu độ (1Tx 4,17).
  • “nâng lên, nhấc lên”: các tôi tớ trung tín được Thiên Chúa đưa vào cõi sống bất tử (x. Đn 7,27; Pl 2,9).
Dù sao, Đức Maria được đưa lên trời để trở thành kẻ chuyển cầu cho các phần tử của nhân loại, cũng giống như Chúa Kitô vào thánh điện trên trời như Thượng tế để chuyển cầu cho chúng ta (x. Dt 7,25). Tín điều này cũng ảnh hưởng đến niềm tin của Hội thánh về điều kiện tương lai của nhân loại. Thật vậy, thân xác của Đức Maria hiện nay là một “thân thể sinh khí” (soma pneumatikon: x. 1Cr 15,44; Pl 3,21), được ở kề bên Thiên Chúa, trong tình trạng hiển vinh, là hình ảnh của điều kiện cánh chung của nhân loại.

2.4.3 Cuộc đối thoại đại kết

Các tín điều phát biểu niềm tin của Hội thánh vào chân lý mạc khải. Hội thánh không “sáng tác” các tín điều, nhưng đón nhận từ Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là các tín điều ràng buộc tất cả mọi Kitô hữu chứ không chỉ riêng gì các phần tử thuộc Giáo hội Công giáo.

Tiếc rằng thực tế không xảy ra như vậy. Có thể nói được là hai tín điều cổ điển (Thiên mẫu, trinh khiết trọn đời) được tất cả các Giáo hội tuyên xưng, nhưng hai tín điều “mới” thì gặp nhiều ngăn trở vì những lý do khác nhau.

a) Các Giáo hội Chính thống không chấp nhận hai tín điều này bởi vì họ không chấp nhận tín điều bất khả ngộ của giáo hoàng. Theo truyền thống các Giáo hội Đông phương, duy chỉ công đồng phổ quát mới có thẩm quyền tuyên bố tín điều. Thực ra, xét về nội dung, các Giáo hội Chính thống vẫn tin rằng Đức Maria là Đấng Toàn thánh, và lễ Đức Mẹ an giấc (15 tháng 8) được cử hành long trọng từ thế kỷ V[11].

b) Chúng tôi đã nói sơ qua những vấn nạn của phái Cải Cách liên quan đến Đức Maria. Họ muốn nhấn mạnh đến sáng khởi của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ: ân sủng mang tính ban không, loại trừ sự hợp tác của con người. Ngoài ra, vào thế kỷ XVI, phong trào tôn kính Đức Mẹ có những lệch lạc, gây cảm tưởng Người là một nữ thần.

Những cuộc đối thoại đại kết trong thế kỷ XX đã giải toả được nhiều hiểu lầm giữa đôi bên. Từ sau Công đồng, nhiều văn kiện đối thoại đại kết giữa Giáo hội Công giáo và phái Cải Cách (ở cấp địa phương) đã được phát hành: Groupe des Dombes, Marie dans le dessein de Dieu et la communion des saints. Controverse et conversion, Paris 1998. U.S. Lutheran - Roman Catholic dialogue VIII, The One Mediator, the Saints, and Mary (1992). Anglican - Roman Catholic International Commission (ARCIC), Mary: Grace and Hope in Christ (Seattle, May 16, 2005)[12]. Thiết tưởng không nên bỏ qua sự đóng góp quan trọng của nhà thần học Max Thurian (Marie, mère du Seigneur, figure de l’Eglise,1961), một thành viên tu viện Taizé được mời làm quan sát viên tại Công đồng, và sau đó trở thành linh mục Công giáo.

2.5. Những đường hướng tiếp cận hiện đại


Khi nói đến Thánh mẫu học, chúng ta giới hạn vào việc nghiên cứu thần học, dùng lý trí để tìm hiểu đức tin. Đó là lối tiếp cận của “lý trí” để tìm kiếm “chân lý”. Tuy nhiên, đó không phải là lối tiếp cận duy nhất. Thời Trung cổ, thánh Tôma sử dụng “ngũ đạo” để minh chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thời nay, cha Stefano de Fiores cũng kể ra “năm con đường” tìm hiểu Đức Maria[13]:

a) Đường Kinh Thánh (via biblica, hoặc: lịch sử cứu độ): trình bày thân mẫu Đức Giêsu theo mạc khải của Thiên Chúa qua các tác phẩm Tân ước.

b) Đường tỏ hiện (via epifanica): qua những lần Đức Mẹ hiện ra cho những người được uỷ thác một sứ mạng đặc biệt (chẳng hạn như: Lourdes, Fatima) hoặc những người đã có một cảm nghiệm riêng tư (chẳng hạn như thánh Louis Marie Grignion de Montfort, thánh Maximiliano Kolbe).

c) Đường tâm linh (via della spiritualità): qua những kinh nguyện bộc phát từ lòng yêu mến, như ta đọc thấy nơi nhiều tác giả thời Trung cổ (chẳng hạn thánh Bênađô), hoặc nơi lòng đạo đức bình dân.

d) Đường chân lý (via della verità): qua đạo lý của Huấn quyền và suy tư thần học; đây là lối tiếp cận cổ truyền của thần học.

e) Đường thẩm mỹ (via pulchritudinis): qua việc chiêm ngắm những tác phẩm nghệ thuật (thi ca, âm nhạc, tranh họa) diễn tả Đấng Tuyệt Mỹ[14].

Và cũng như thần học nói chung, bên cạnh khuynh hướng “khẳng định” còn có khuynh hướng “phủ định”, đặc tính của các nhà thần bí. Sự thinh lặng cũng là một cách làm thần học (theologia = nói về Chúa, nói với Chúa).

2.6. Đức Maria trong Hội thánh ngày nay


Trong bài này, chúng tôi giới hạn vào việc tìm hiểu những đường hướng suy tư thần học về Đức Maria. Để kết luận, cần phải mở rộng đến sự hiện diện của Đức Thánh mẫu trong đời sống Hội thánh. Thật vậy, Người không chỉ là một “đối tượng nghiên cứu” nằm trong sách vở, nhưng Người hiện diện trong đời sống Hội thánh bằng nhiều cách. Đối lại, Hội thánh không chỉ nhìn Người như chân lý phải tin nhưng còn duy trì mối tình hiếu thảo qua nhiều phương thế.

Chúng ta có thể lấy một thí dụ từ sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, được ban hành ba mươi năm sau Công đồng (1992). Sách Giáo lý không dành cho Đức Maria một chương biệt lập, nhưng nhắc đến Người trong tất cả bốn phần. Điều này muốn cho thấy rằng Đức Maria hiện diện trong toàn thể mầu nhiệm đức tin Kitô giáo: trong việc tuyên xưng đức tin (phần thứ nhất), cử hành mầu nhiệm (phần thứ hai), sống trong Đức Kitô (phần thứ ba), cầu nguyện (phần thư bốn). Nói khác đi, mầu nhiệm Kitô giáo mang một chiều kích Maria. Số 487 cung cấp cho ta một chìa khóa để đọc các đoạn văn viết về Mẹ Maria: “Điều mà đức tin Công giáo tin về Đức Maria dựa trên điều mà Hội thánh tin về Chúa Kitô, đức tin Công giáo tin về Đức Maria dựa trên điều mà Hội thánh tin về Chúa Kitô, điều mà Hội thánh dạy về Đức Maria thì soi sáng đức tin vào Chúa Kitô”. Dĩ nhiên, tuy nhìn nhận sự liên hệ mật thiết giữa các tín điều về Chúa Giêsu và các tín điều về Đức Maria, nhưng chúng ta đừng nên bỏ qua nguyên tắc “hệ cấp các chân lý” (hierarchia veritatum) được công đồng Vaticanô II nói đến trong sắc lệnh về đại kết (số 11) và được sách Giáo lý trích lại ở số 90.

Đức Maria được nhắc đến nhiều hơn cả trong phần thứ nhất: Người đồng hành với Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời từ khi Truyền tin cho tới thập giá, và đồng hành với Giáo hội (đặc biệt ở các số 963-972); mối tương quan giữa Đức Maria với Chúa Thánh Thần cũng được nhắc tới nhiều lần (số 484-486; 721-726). Phần thứ hai nhắc đến Đức Maria như là thành phần của Hội thánh ca ngợi Thiên Chúa (số 1138; 1187); đồng thời sách Giáo lý giải thích lý do vì sao Người được tôn kính cách đặc biệt (số 1161; 1172; 1192; 1195). Phần thứ ba trình bày Đức Maria như kẻ đã sống các chân phúc, cũng như là mẫu gương các nhân đức, đặc biệt là đức tin. Trong phần thứ bốn, ta thấy Đức Maria như là mẫu gương của một tín hữu cầu nguyện vì thế có thể dạy ta cầu nguyện; đặc biệt, sách Giáo lý giải thích ý nghĩa của các lời cầu hướng về Đức Maria ở số 2673-2678[15].

Cùng với sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, thiết tưởng chúng ta không nên bỏ qua những văn kiện của Tòa thánh liên quan đến việc tôn kính Đức Maria[16], chẳng hạn như:
  • Đức Phaolô VI, tông huấn Marialis cultus (2/2/1974), về sự chăm lo và phát triển việc tôn kính Đức Trinh nữ Maria cách đúng đắn.
  • Bộ Phụng tự, Tuyển tập những bài lễ kính Đức Maria (Collectio missarum de Beata Maria Virgine: 15/8/1986).
  • Đức Gioan Phaolô II, Tông thư Rosarium virginis Mariae (16/10/2002) về kinh Mân côi.

Kết luận


Trong bài này, chúng tôi chỉ muốn giới thiệu vài nét tiến triển của Thánh mẫu học trong những năm sau công đồng Vaticanô II. Chắc hẳn là còn rất nhiều thiếu sót, cách riêng bởi vì không nhắc đến đời sống đạo của Dân Chúa, một nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến việc tôn kính và suy tư. Chúng ta có thể lấy một tỉ dụ từ triều đại của thánh Gioan Phaolô II, vị “giáo hoàng của Đức Mẹ”. Việc nghiên cứu Thánh mẫu học của ngài không thể nào chỉ giới hạn vào các văn kiện (thông điệp, tông huấn, tông thư)[17], nhưng còn phải kèm theo các cuộc hành hương đến các thánh điện của Thánh mẫu, các hành vi “ký thác” Giáo hội cho Đức Mẹ, đặt trong bối cảnh của những phong trào giáo dân cổ động lòng sùng kính Người (đặc biệt gắn liền với những nơi Đức Mẹ hiện ra)[18].

Mặt khác, Đức Maria không phải là “độc hữu” của Kitô giáo. Người cũng được nhắc đến trong đạo Do thái và đặc biệt là trong sách Coran của Islam (70 lần). Không thiếu những tác phẩm đã được dành để nghiên cứu lãnh vực này. Ngoài ra, nếu Thánh mẫu học không thể bỏ qua chiều kích nhân văn, thì cũng cần theo dõi những tiếng nói của các môn nhân văn học về Đức Maria. Thật vậy, từ trước Công đồng, Karl Jung đã bàn đến Đức Maria như một biểu tượng trong tâm lý chiều sâu. Gần đây, bên cạnh những tranh luận của phong trào giải phóng phụ nữ chung quanh hình ảnh của Đức Maria, cần phải nhắc đến sự so sánh giữa việc tôn kính Đức Thánh Mẫu với những vị Nữ thần (Mẫu thần, đạo thờ Mẫu) trong văn hóa các dân tộc. Thánh mẫu học là một lãnh vực nghiên cứu còn rộng mở.

Thư tịch


1. Lịch sử việc soạn bản văn chương VIII Lumen gentium

  • G. M. Besutti, Lo schema mariano al Concilio Vaticano II. Documentazione e note di cronaca. Marianum, Roma 1966.
  • R. Laurentin, La Vierge au Concile. Présentation, texte du chapitre VIII de la constitution dogmatique “Lumen gentium”. Lethielleux, Paris 1965.
  • S. M. Meo, Maria nel capitolo VIII della “Lumen gentium”. Elementi per un’analisi dottrinale. Marianum, Roma 1975.
  • E. M. Toniolo, Il capitolo VIII della “Lumen Gentiun”. Cronistoria e sinossi, in Marianum 66 (2004) pp. 9-425.


2. Thánh mẫu học sau công đồng Vaticanô II

  • AA. VV., Prospettive attuali di mariologia. Monfortane, Roma 2001.
  • A. Amato, Maria nell’insegnamento del magistero dal Concilio Vaticano II a oggi, in AA. VV., Fons Lucis. Miscellanea di studi in onore di Ermanno M. Toniolo. Marianum, Roma 2004, pp. 437-472.
  • S. De Fiores, Maria nella teologia contemporanea. Centro Cultura Mariana, Roma 1991 (3 ed).
  • S. M. Perrella, La Madre di Gesù nella coscienza ecclesiale contemporanea. Saggi di teologia. PAMI, Città del Vaticano 2005.
  • ________., Insegnamento della Mariologia e Magistero. L’indicazione dell’Esortazione post sinodale “Verbum Domini” di Benedetto XVI, in “Marianum” 73 (2011), pp. 201-256.
  • ________., L’insegnamento della mariologia ieri e oggi Edizioni Messaggero, Padova 2012.
Các độc giả có thể tìm thấy một nguồn quan trọng về Thánh mẫu học bằng tiếng Anh ở trang web của Đại Học Dayton: “The Mary Page”: http://campus.udayton.edu/mary/index.html [ND].
___________
[1] Tác giả là giám đốc Học viện “Marianum” (Rôma) chuyên về Thánh mẫu học. Nguồn: “Percorsi teologici postconciliari. Dalla Lumen gentium ad oggi”, in: Maria nel Concilio, Centro di Cultura Mariana, Roma 2006, p.175-312. Tuy được viết cách đây 10 năm, nhưng bài này không mất tính thời sự. Trong khuôn khổ của một bài báo, chúng tôi chỉ tóm lược những ý chính chứ không dịch sát nguyên văn, cũng như cắt bỏ các chú dẫn thư mục.

[2] Nên lưu ý là trong các ngôn ngữ châu Âu, “Thánh-mẫu-học” là mariologia (hoặc marialogia), dịch sát là “Maria-luận” (khảo luận về Maria). Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1602 do cha Placido Nigido S.J. trong tựa đề tác phẩm Summae sacrae mariologicae pars prima. Có người thích dùng thuật ngữ theologia marialis.

[3] Chúng ta đừng quên rằng trong hai thế kỷ XIX và XX, Hội thánh đã tuyên bố hai tín điều về Đức Maria: Vô nhiễm nguyên tội (8/12/1854) và Hồn xác lên trời (1/11/1950), thêm vào hai tín điều đã có từ thời các giáo phụ (Mẹ Thiên Chúa - Trinh khiết trọn đời). Việc “đề cao” Đức Maria cũng nhằm chống lại phong trào Cải cách loại trừ mọi môi giới của con người trong chương trình cứu chuộc, dựa theo nguyên tắc của Lutêrô: a) solus Christus (duy Đức Kitô là Đấng cứu độ, trung gian duy nhất), b) sola gratia (duy chỉ nhờ ân sủng mà chúng ta được cứu độ), c) sola fides (duy chỉ nhờ đức tin mà chúng ta nhận được ơn nên công chính), d) sola Scriptura (duy chỉ Kinh Thánh là nền tảng đức tin).

[4] Thuật ngữ này xuất hiện tại Hội nghị TMH quốc tế tại Lourdes năm 1958.

[5] S. MEO, “Concilio Vaticano II”, in: Nuovo Dizionario di Mariologia, Paoline, Cinisello Balsamo 1986, p. 346.

[6] Như đã nói trên, khi họp công đồng, một số nghị phụ đã đề nghị tuyên bố tín điều “Đức Mẹ trung gian các ân sủng” (Mediatrix omnium gratiarum); nhưng một khuynh hướng đối lại yêu cầu đừng đả động đến điểm này vì không có chứng cớ Kinh Thánh và gây khó khăn cho cuộc đối thoại đại kết. Đứng trước hai khuynh hướng đối lập, Công đồng (số 62) đã chọn lựa một giải pháp thỏa hiệp, đó là đặt tước hiệu “trung gian” trong số những tước hiệu mà các tín hữu quen kêu cầu Đức Maria (Trạng sư, Phù hộ, Trợ giúp, Trung gian), nhưng không đi sâu vào nội dung tín lý.

[7] Ngoài Hiến chế về Giáo hội, công đồng còn nhắc đến Đức Maria trong nhiều văn kiện khác: Hiến chế về Phụng vụ, số 110; Sắc lệnh về các Giáo hội Đông phương, số 30; Sắc lệnh về Đại kết, số 14, 15, 20; Sắc lệnh về Đời tu, số 25; Sắc lệnh về việc Đào tạo linh mục, số 8; Tuyên ngôn về Các tôn giáo, số 3, 4; Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân, số 4; Sắc lệnh về Truyền giáo, số 4; Sắc lệnh về Linh mục, số 18; Hiến chế về Mục vụ, số 22.

[8] Xt. Huấn thị của Bộ Giáo dục Công giáo về việc dạy Thánh mẫu học trong các chủng viện: The Virgin Mary in Intellectual and Spiritual Formation (3/25/1988).

[9] R. Laurentin, Un armo di grazia con Maria. La sua storia, il dogma, la sua presenza, Queriniana, Brescia 1987, pp. 83-131.

[10] ĐGH Gioan Phaolô II, Diễn văn đọc tại Capua (ngày 24/5/1992) nhân dịp hội nghị kỷ niệm 1600 năm công đồng Capua tuyên xưng tín điều Đức Maria trọn đời đồng trinh năm 392, dưới triều giáo hoàng Siriacô: AAS 85 (1993) 663-670.

[11] A. Kniazeff, La Madre di Dio nella Chiesa ortodossa. San Paolo, Cinisello Balsamo 1993.

[12] G. Bruni, Mariologia Ecumenica? Indicazioni dal dialogo ecumenico ufficiale internazionale tra la Chiesa cattolica romana e le Chiese nate dalla Riforma, in Marianum 59 (1997) pp. 601-650.

[13] S. De Fiores, “Le ‘vie’ della conoscenza di Maria: panoramica generale”, in AA. VV., Come conoscere Maria. Centro di Cultura Mariana , Roma 1984, pp. 7-27.

[14] Về phía thần học, Hans Urs von Balthasar là người đã mở hướng mới cho môn “thẫm mỹ thần học” (esthetica theologica). Vài tác phẩm tiêu biểu của lối tiếp cận theo con đường “đẹp”: C. Militello, Mariologia e “via pulchritudinis”, in: Marianum 61 (1999) pp. 459-487; AA.VV, Via pulchritudinis e mariologia. AMI, Roma 2003; S. M. Perrella, “Tota Pulchra es Maria”. L’Immacolata: frutto segno e riverbero della bellezza e dello splendore di Cristo Redentore dell’uomo, in AA. VV., Il dogma dell’Immacolata Concezione di Maria. Problemi attuali e tentativi di ricomprensione. Marianum, Roma 2004, pp. 463-623; F. Manzi, La bellezza di Maria. Riflessioni bibliche. Ancora, Milano 2005.

[15] AA. VV., Maria nel Catechismo della Chiesa Cattolica. Centro di Cultura Mariana, Roma 1993.

[16] J. Castellano Cervera, La presenza di Maria nel mistero del culto. Natura e significato, in Marianum 58 (1996) pp. 387-427; S. De Fiores, Maria madre di Gesùø. Sintesi storico-salvifica. EDB, Bologna 1992, pp. 230-287; C. Valenziano, Culto popolare a Maria con celebrazione liturgica e con spritualità spontanee, in AA. VV. Maria nella Chiesa in cammino verso il Duemila. Marianum-Dehoniane, Roma-Bologna 1989, pp. 315-357.

[17] Đừng kể những văn kiện mang tính huấn quyền, thánh Gioan Phaolô II còn trình bày một loạt 70 bài huấn giáo về Đức Maria [được dịch sang tiếng Việt Những bài huấn giáo về Đức Maria, Học viện Đa Minh tái bản nhiều lần – ND].

[18] Thông điệp Redemptoris Mater được viết trong bối cảnh Năm Thánh Mẫu (1987-88), chuẩn bị đón mừng năm 2000. Một vài phong trào đã yêu cầu Đức Thánh Cha tuyên bố một Năm thánh kỷ niệm 2000 năm sinh nhật Đức Mẹ.
Read More