Chân lý sẽ giải thoát anh em (Ga 8,32)

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

“TIN VÀO AI”, “TIN VÀO ĐIỀU GÌ” VÀ “TIN” TRONG TIN MỪNG GIO-AN

Thời sự Thần học – Số 58, tháng 11/2012, tr. 45-74

Giuse Lê Minh Thông, O.P.


Dàn bài


I. Động từ “pisteu,w” (tin) trong Tin Mừng Gio-an
II.Cách dùng động từ “pisteu,w” (tin)
  1. Tin vào ai?
    a) Tin vào Đức Giê-su
    b) Tin vào Thiên Chúa
    c) Tin vào Môsê, tin vào dân chúng
  2. Tin vào điều gì?
    a) Nội dung niềm tin của các môn đệ
    b) Động từ “tin” dùng theo nghĩa khác
  3. “Tin” (pisteu,w) không có bổ túc từ
III. Ba cấp độ tin vào Đức Giê-su
  1. Không thực sự tin vào Đức Giê-su (8,31)
  2. Chưa thực sự tin vào Đức Giê-su (2,23-25)
  3. Thực sự tin vào Đức Giê-su
    a) Tin đích thực nhờ dấu lạ
    b) Tin đích thực nhờ lời Đức Giê-su
    c) Tin đích thực nhờ lời các môn đệ
IV. Khủng hoảng niềm tin
V. Làm gì để giữ vững niềm tin?
  1. “Ở lại trong nhau” (Đức Giê-su – môn đệ)
  2. Sự ở lại của Chúa Cha, Đức Giê-su, Đấng Pa-rác-lê
  3. Bình an và niềm vui Đức Giê-su ban tặng
  4. Hoạt động của Đấng Pa-rác-lê nơi các môn đệ

Dẫn nhập


“Năm Đức Tin” vừa khai mạc. Hội thánh nhận thức tầm quan trọng và nền tảng của đức tin nên mời gọi mọi tín hữu suy niệm, học hỏi về đề tài “tin” trong năm nay (2012 – 2013). Có thể đặt ra nhiều câu hỏi xoay quanh đề tài lớn này. Chẳng hạn, tin là gì? Làm gì để tin? Tin vào ai? Tin vào điều gì? Làm gì để có niềm tin sống động? Sống thế nào là sống niềm tin? Làm thế nào để nuôi dưỡng niềm tin? Những giải pháp nào giúp vượt qua khủng hoảng niềm tin? v.v.. Nhiều lãnh vực khác nhau có thể trả lời những câu hỏi trên, chúng bổ túc và soi sáng cho nhau, nhằm giúp mọi người tìm hiểu đề tài bao trùm đời sống của Hội thánh: “TIN”.

Bài viết này trình bày đề tài “tin” trong lãnh vực Kinh Thánh và giới hạn trong Tin Mừng Gio-an. Cụ thể là Tin Mừng Gio-an nói gì về hành động “tin” và soi sáng thế nào cho những câu hỏi liên quan đến niềm tin trên đây? Nội dung bài viết sẽ tìm hiểu đề tài “tin” qua năm mục: (I) Quan sát số lần và nơi xuất hiện của động từ “pisteu,w” (tin); (II) Cách dùng động từ “tin”; (III) Ba cấp độ tin vào Đức Giê-su; (IV) Khủng hoảng niềm tin; (V) Làm gì để giữ vững niềm tin? Mong rằng Tin Mừng Gio-an có những đóng góp quan trọng và thiết thực vào việc học hỏi và sống đức tin trong thế giới hôm nay.

I. Động từ “pisteu,w” (tin) trong Tin Mừng Gio-an


Trong Tin Mừng Gio-an, động từ “pisteu,w” (tin) xuất hiện 99 lần. Tính từ “pisto,j” chỉ “người tin” xuất hiện 1 lần (20,27) và phủ định của tính từ này: “a;pistoj” (người không tin) xuất hiện 1 lần cũng ở 20,27. Đức Giê-su Phục Sinh nói với Tô-ma: “Đưa ngón tay của anh vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay của anh ra và đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng trở thành người không tin (a;pistoj), nhưng là người tin (pisto,j).”[1] Tin Mừng Gio-an không dùng danh từ “pi,stij” (lòng tin, đức tin) như trong các sách khác của Tân Ước. Với 99 lần xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an, có thể nói “TIN” là đề tài quan trọng và tác giả nhấn mạnh đến “hành động tin”, bằng cách chỉ dùng động từ “pisteu,w” (tin) chứ không dùng danh từ “pi,stij” (lòng tin).

Động từ “pisteu,w” (tin) trong Tin Mừng Gio-an được phân bổ như thế nào? Nếu chia Tin Mừng này làm hai phần lớn: (1) Sách các dấu lạ (Ga 1–12) và (2) Sách Giờ tôn vinh (Ga 13–21) thì có hơn 3/4 lần động từ “tin” xuất hiện trong sách các dấu lạ. Cụ thể là ch. 1–12 xuất hiện 77 lần; ch. 13–21 xuất hiện 22 lần. Như thế, đề tài “tin” được triển khai chủ yếu trong phần đầu của sách Tin Mừng (ch. 1–12). Số lần xuất hiện của động từ “tin” tăng dần trong 12 chương đầu, và giảm dần trong phần thứ hai (ch. 13–21).

Nếu chia sách Tin Mừng Gio-an thành nhiều phần với độ dài khoảng 4 chương, sẽ thấy đỉnh cao số lần động từ “tin” xuất hiện ở ch. 9–12. Cụ thể các lần xuất hiện như sau: Ch 1–4: 22 lần; ch. 5–8: 26 lần; ch. 9–12: 29 lần; ch. 13–17: 15 lần; ch. 19–21: 7 lần. Các chương có động từ “tin” xuất hiện nhiều nhất là ch. 12: 10 lần; ch. 6;11: 9 lần; ch. 3: 8 lần; ch. 5;14: 7 lần; ch. 10,21: 6 lần. Có hai chương (ch. 13;19) động từ “tin” chỉ xuất hiện 1 lần, và có ba chương (ch. 15;18;21) không xuất hiện động từ “tin”. Liệt kê chi tiết 99 lần động từ “tin” trong Tin Mừng Gio-an sau đây cho thấy phân bổ tổng quát động từ “tin”:

Ch 1–12: 77 lần
  Ch 1–4: 22 lần
    1,7.12.50;
    2,11.22.23.24;
    3,12a.12b.15.16.18a.18b.18c.36;
    4,21.39.41.42.48.50.53;
  Ch. 5–8: 26 lần
    5,24.38.44.46a.46b.47a.47b;
    6,29.30.35.36.40.47.64a.64b.69;
    7,5.31.38.39.48;
    8,24.30.31.45.46;
  Ch. 9–12: 29 lần
    9,18.35.36.38;
   10,25.26.37.38a.38b.42;
   11,15.25.26a.26b.27.40.42.45.48;
   12,11.36.37.38.39.42.44a.44b.46.47;
Ch. 13–21: 22 lần
  Ch. 13–17: 15 lần
   13,19;
   14,1a.1b.10.11a.11b.12.29;
   16,9.27.30.31;
   17,8.20.21;
Ch. 19–21: 7 lần
   19,35;
   20,8.25.29a.29b.31a.31b.

Trong lời tựa sách Tin Mừng (1,1-18) đề tài “tin” đã được nói đến cách long trọng và rõ ràng. Gio-an Tẩy Giả làm chứng về Đức Giê-su là “để mọi người tin nhờ ông ấy” (1,7). Người tin được định nghĩa ở 1,12-13: “12 Những ai đã đón nhận Người (Logos), Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ là những người tin vào danh của Người. 13 Họ được sinh ra không bởi khí huyết, cũng không bởi ước muốn của người phàm, cũng không bởi ước muốn của đàn ông, nhưng bởi Thiên Chúa.” Trong phần sứ vụ công khai của Đức Giê-su (ch. 1–12), người thuật chuyện triển khai đề tài “tin” qua giáo huấn và mặc khải của Đức Giê-su cho đám đông, cho các môn đệ và cho những kẻ chống đối Người (những người Pha-ri-sêu và những người Do Thái). Sang phần diễn từ từ biệt (ch. 13–17), Đức Giê-su nói về lòng tin của các môn đệ. Đến cuối sách Tin Mừng, đề tài “tin” được nhắc lại trong kết luận thứ nhất, như là mục đích của Tin Mừng: “30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác trước mặt các môn đệ (của Người); chúng không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được ghi chép là để anh em tin rằng: Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; và nhờ tin, anh em có sự sống trong danh của Người” (20,30-31). Như thế, đề tài “tin” xuyên suốt sách Tin Mừng và mục đích những gì được viết ra là “để anh em tin” và “nhờ tin anh em có sự sống” (20,31), vậy đề tài “tin” trong Tin Mừng Gio-an là quan trọng nhưng được sử dụng như thế nào?

II. Cách dùng động từ “pisteu,w” (tin)


Cách dùng 99 lần động từ “tin” xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an được chia làm ba loại chính: (1) Tin vào ai? (2) Tin vào điều gì? (3) “Tin” (không có bổ túc từ).

1. Tin vào ai?


Về đối tượng của hành động “tin”, Tin Mừng Gio-an nói đến (a) Tin vào Đức Giê-su; (b) Tin vào Thiên Chúa, (c) Tin vào Môsê, tin vào dân chúng.

a) Tin vào Đức Giê-su

Phần lớn số lần động từ “tin” xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an nói về việc “tin” hay “không tin” vào Đức Giê-su. Có hai cách dùng tiếng Hy Lạp để diễn tả ý tưởng “tin vào ai”: (1) Động từ pisteu,w (tin) + giới từ eivj (vào) + đại từ hay danh từ ở đối cách (accusative). (2) Động từ pisteu,w (tin) + đại từ hay danh từ ở tặng cách (dative).

(1) Trong lối diễn tả (pisteu,w + eivj), có bốn cách diễn tả về hành động tin vào Đức Giê-su.

(a) Cách nói khẳng định “tin vào Đức Giê-su” xuất hiện 20 lần (2,11; 3,15.16; 3,18a.36; 4,39; 6,29.35.40; 7,31.48; 8,30; 9,36; 10,42; 11,45.48; 12,11.42; 14,1a; 17,20). Cách nói phủ định: “Không tin vào Đức Giê-su” xuất hiện 4 lần (7,5; 12,37.44; 16,9).

(b) Cách thứ hai nói gián tiếp về Đức Giê-su, xuất hiện 2 lần: “Tin vào Con Người” (9,35); “tin vào ánh sáng” (12,36).

(c) Trong cách thứ ba, động từ “tin” được chia ở “lối động tính từ (participle) + giới từ eivj  (vào)”: “Người tin vào Đức Giê-su” xuất hiện 7 lần (7,38.39; 11,25.26a; 12,44.46; 14,12).

(d) Cách thứ tư dùng kiểu nói: “Tin vào danh Đức Giê-su”, hay “tin vào danh Con Một Thiên Chúa”, xuất hiện 3 lần ở 1,12; 2,23; 3,18c.

Tóm lại, kiểu diễn tả: “Tin vào (pisteu,w eivj) Đức Giê-su” xuất hiện 33 lần và “tin vào (pisteu,w eivj) danh Đức Giê-su” xuất hiện 3 lần.

(2) Cách dùng “động từ pisteu,w + đại từ hay danh từ ở tặng cách (dative)” xuất hiện ít hơn cách dùng “pisteu,w eivj”. Kiểu nói khẳng định: “Tin vào Đức Giê-su” (pisteu,w + tặng cách) xuất hiện 4 lần (4,21; 5,46b; 6,30; 8,31) và kiểu nói phủ định: “Không tin vào Đức Giê-su” (pisteu,w + tặng cách) xuất hiện 6 lần (5,38; 8,45; 8,45.46; 10,37.38a). Như thế, cả hai lối diễn tả: khẳng định và phủ định, trong cách dùng “pisteu,w + tặng cách”, xuất hiện 10 lần trong Tin Mừng Gio-an.

Với hai cách dùng “pisteu,w eivj” và “pisteu,w + tặng cách”, động từ “tin” (pisteu,w) được dùng tất cả 46 lần trong Tin Mừng Gio-an để trình bày đề tài “tin hay không tin” vào Đức Giê-su.

b) Tin vào Thiên Chúa

Đề tài “tin vào Thiên Chúa” chỉ được nói đến 2 lần trong Tin Mừng Gio-an với hai cách dùng: “pisteu,w eivj” (14,1b) và “pisteu,w + tặng cách” (5,24). Lần thứ nhất ở 5,24, Đức Giê-su nói với những người Do Thái: “Ai nghe lời Tôi và tin vào Đấng đã sai Tôi (pisteu,wn tw/| pe,myanti, me), thì có sự sống đời đời” (5,24). Trong câu này, Đức Giê-su gọi Thiên Chúa là “Đấng đã sai Tôi”. Lần thứ hai ở 14,1b, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em hãy tin vào Thiên Chúa (pisteu,ete eivj to.n qeo.n) và hãy tin vào Thầy” (14,1b).

Tuy đề tài “tin vào Thiên Chúa” chỉ xuất hiện 2 lần nhưng có tầm quan trọng đặc biệt. Trước hết, Đức Giê-su đồng hoá “Đấng đã sai Đức Giê-su” với “Thiên Chúa”. Tin vào Thiên Chúa (14,1a) cũng là tin vào Đấng đã sai Đức Giê-su đến thế gian (5,24). Kế đến, trong cả hai lần (5,24 và 14,1a) niềm tin vào Thiên Chúa nối kết chặt chẽ với “nghe lời Đức Giê-su” (5,24) và “tin vào Đức Giê-su” (14,1b). Điều này quan trọng vì cho phép phân biệt “môn đệ của Đức Giê-su” với “những kẻ chống đối Đức Giê-su” (những người Do Thái và những người Pha-ri-sêu). Họ cũng tin vào Thiên Chúa và cho rằng Thiên Chúa là Cha của họ. Khi tranh luận với Đức Giê-su, những người Do Thái nói rằng: “Chúng tôi không phải là con đẻ hoang. Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa” (8,41). Nhưng thực ra họ không có Thiên Chúa là Cha của họ, vì Đức Giê-su trả lời họ: “Nếu Thiên Chúa là Cha các ông, các ông đã yêu mến Tôi, vì chính Tôi phát xuất và đến từ nơi Thiên Chúa. Tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Đấng ấy đã sai Tôi” (8,42).

Điều làm cho các môn đệ của Đức Giê-su khác với những người Do Thái là niềm tin của các môn đệ vào Thiên Chúa là Đấng đã sai Đức Giê-su đến thế gian. Đồng thời niềm tin này không thể tách khỏi “tin vào Đức Giê-su” (14,1b) và “nghe lời của Người” (5,24). Những người Do Thái và những người Pha-ri-sêu không tin vào Đức Giê-su, họ tự hào mình là “môn đệ của Mô-sê” và la mắng anh mù được chữa lành bằng cách cho anh ta là “môn đệ của Đức Giê-su” (x. 9,28-29). Thực vậy, người thuật chuyện kể về cuộc đối chất giữa những kẻ chống đối Đức Giê-su và anh mù được chữa lành ở 9,28-29: “28 Họ mắng anh ta và nói: ‘Anh, anh là môn đệ của Ông ấy; còn chúng tôi, chúng tôi là môn đệ của Mô-sê. 29 Chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã nói với Mô-sê; nhưng người này, chúng tôi không biết Ông ta từ đâu đến’.”

c) Tin vào Môsê, tin vào dân chúng

Trong Tin Mừng Gio-an, có 1 lần Đức Giê-su nói đến “tin vào Môsê” (pisteu,w + tặng cách) ở 5,46a. Đức Giê-su nói với những người Do Thái: “Vì nếu các ông tin Mô-sê (eiv ga.r evpisteu,ete mwu?sei), các ông cũng tin Tôi, vì ông ấy đã viết về Tôi” (5,46).

Cũng với cách dùng “pisteu,w + tặng cách”, Ga 2,24 cho biết Đức Giê-su không tin vào dân chúng. Người thuật chuyện kể ở 2,23-24: “23 Trong lúc Người (Đức Giê-su) ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, nhiều kẻ đã tin vào danh của Người khi thấy các dấu lạ mà Người đã làm. 24 Nhưng Đức Giê-su, chính Người không tin họ (auvto.j de. VIhsou/j ouvk evpi,steuen auvto.n auvtoi/j), vì Người biết tất cả...”

Tóm lại, đề tài “tin vào ai” được trình bày trong Tin Mừng Gio-an như sau: “Tin vào Đức Giê-su” (46 lần) “tin vào Thiên Chúa” (2 lần: 14,1b.5,24); “tin vào Mô-sê” (1 lần: 5,46); “Đức Giê-su không tin dân chúng” (1 lần: 2,24).

2. Tin vào điều gì?


“Tin vào Đức Giê-su” và “tin vào điều gì” là hai nội dung chính của mặc khải trong Tin Mừng Gio-an. Trả lời câu hỏi “Tin vào điều gì?” sẽ nhận ra nội dung niềm tin của các môn đệ theo thần học Tin Mừng Gio-an. Nội dung niềm tin này được trình bày với hai công thức: (1) “pisteu,w o[ti…” (tin rằng:…) và (2) “pisteu,w + tặng cách (dative)”. Trong Tin Mừng Gio-an, có 2 lần cách dùng “pisteu,w + tặng cách” không liên quan đến việc tin vào Đức
Giê-su.

a) Nội dung niềm tin của các môn đệ

Tin Mừng Gio-an dùng kiểu diễn tả: “pisteu,w o[ti…” (tin rằng:…) để trình bày nội dung niềm tin. Tin vào Đức Giê-su là đón nhận Người, là bước vào tương quan với Người, để từ đó tin vào lời Người mặc khải về Chúa Cha và về chính Người. Tin Mừng Gio-an dùng 11 lần công thức “pisteu,w o[ti…” (tin rằng:…) để trình bày năm nội dung niềm tin:

(1) Tin rằng Đức Giê-su là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian (2 lần: 11,27; 20,31a).
(2) Tin rằng Chúa Cha đã sai Đức Giê-su (3 lần: 11,41; 17,8.21).
(3) Tin rằng Đức Giê-su LÀ, với công thức “Ta Là (evgw, eivmi)” (2 lần: 8,24; 13,19).
(4) Tin rằng Đức Giê-su từ Thiên Chúa mà đến (2 lần: 16,27.30).
(5) Tin rằng Đức Giê-su ở trong Cha và Cha trong Đức Giê-su (2 lần: 14,10.11).

Ba nội dung niềm tin khác được diễn tả qua công thức “pisteu,w + tặng cách (dative)” với đối tượng không phải là con người.[2] Cách dùng này xuất hiện 5 lần và liên quan đến 3 nội dung niềm tin:
(6) Tin vào Kinh Thánh, xuất hiện 1 lần ở 2,22a.
(7) Tin vào lời Đức Giê-su, xuất hiện 3 lần, trong đó ở 2,22b và 4,50 dùng danh từ Hy Lạp “logos” (lời); ở 5,47b dùng danh từ “rêma” cũng có nghĩa là “lời”.
(8) Tin vào các việc Đức Giê-su làm, xuất hiện 1 lần ở 10,38b.

Riêng ở 11,26b, người thuật chuyện dùng kiểu diễn tả: “pisteu,w + đối cách (accusative)”, chỉ xuất hiện 1 lần trong Tin Mừng Gio-an, để trình bày nội dung niềm tin quan trọng. Có thể xem mặc khải của Đức Giê-su ở 11,25-26 là nội dung thứ 9 của đức tin trong Tin Mừng Gio-an. Trong hoàn cảnh La-da-rô em của Mác-ta và Ma-ria đã chết bốn ngày, Đức Giê-su đến Bê-ta-ni-a gặp Mác-ta và nói với chị:

(9) “25 Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống, 26 và tất cả những ai sống và tin vào Thầy, muôn đời sẽ không chết. Chị có tin điều đó không?” (11,25-26).

Câu Đức Giê-su hỏi Mác-ta: “Chị có tin điều đó không? (pisteu,eij tou/toÈ)” dùng động từ “pisteu,w + đối cách” diễn tả nội dung mặc khải quan trọng ở 11,15-16a. Đây là câu trả lời của Đức Giê-su liên quan đến “sự chết” và “sự sống” của Đức Giê-su, của La-da-rô và của người tin qua mọi thời đại.[3]

b) Động từ “tin” dùng theo nghĩa khác

Trong Tin Mừng Gio-an, xuất hiện 2 lần cách dùng “pisteu,w + tặng cách” không liên quan đến niềm tin vào Đức Giê-su:

(1) Đức Giê-su kết tội những người Do Thái là họ đã không tin vào những điều Môsê viết (5,47a).
(2) Người thuật chuyện trích dẫn ngôn sứ I-sai-a ở Ga 12,38: “Ai đã tin lời rao giảng của chúng con?”

Sứ vụ của Đức Giê-su được tóm kết qua lời trích dẫn ngôn sứ I-sai-a ở Ga 12,37-38: “37 Người (Đức Giê-su) đã làm quá nhiều dấu lạ trước mặt họ, mà họ không tin vào Người, 38 để lời ngôn sứ I-sai-a được nên trọn như đã nói: ‘Lạy Đức Chúa, ai đã tin lời rao giảng của chúng con? Và cánh tay của Đức Chúa đã được tỏ cho ai?’” Trong câu: “Ai đã tin lời rao giảng của chúng con? (ti,j evpi,steusen th/| avkoh/| h`mw/nÈ)” sử dụng công thức “pisteu,w + tặng cách”.

Tóm lại, với ba cách dùng: “pisteu,w o[ti…”, “pisteu,w + tặng cách” và “pisteu,w + đối cách”, nội dung niềm tin của các môn đệ được trình bày qua 9 đề tài trên đây và xuất hiện 17 lần, cùng với 2 lần cách dùng “pisteu,w + tặng cách” không nói đến niềm tin vào Đức Giê-su (5,47a; 12,38).

3. “Tin” (pisteu,w) không có bổ túc từ


Tin Mừng Gio-an dùng 30 lần động từ “tin” (pisteu,w) không có bổ túc từ và được chia làm hai nhóm: Khẳng định (“tin”, 19 lần) và phủ định (“không tin”, 11 lần).

(a) Động từ “tin” trong câu khẳng định và không có bổ túc từ, xuất hiện 16 lần trong Tin Mừng Gio-an: 1,7.50; 3,12b; 4,41.42.53; 6,69; 9,38; 11,15.40; 14,29; 16,31; 19,35; 20,8.29a.31b. Bản văn còn dùng lối động tính từ (participle): “Người tin” (o` pisteu,wn), xuất hiện 3 lần ở 3,18b; 6,47; 20,29b.

(b) Động từ “tin” ở thể phủ định “không tin”, không có bổ túc từ xuất hiện 10 lần: 3,12a; 4,48; 5,44; 6,36.64a; 9,18; 10,25.26; 12,39; 20,25. Động từ “tin” ở lối động tính từ: “Người không tin” chỉ xuất hiện 1 lần ở 6,64b.

Khi người thuật chuyện dùng động từ “tin” không có bổ túc từ thường bao hàm nhiều khía cạnh của niềm tin (tin vào ai và tin vào điều gì). Chẳng hạn, khi Si-môn Phê-rô và người môn đệ khác, người Đức Giê-su thương mến, đi ra mộ Đức Giê-su, vào ngày thứ nhất trong tuần (20,1-7), họ không thấy Đức Giê-su trong mộ, họ chỉ “6b thấy những băng vải còn để đó, 7 và khăn che đầu của Người không để với những băng vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi” (20,6b-7). Người thuật chuyện viết về người môn đệ Đức Giê-su thương mến: “Ông ấy đã thấy và đã tin” (20,8b).

Như thế, trước khi Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra với các môn đệ vào tối ngày hôm đó (20,19-23), người môn đệ Đức Giê-su thương mến là người đầu tiên đã tin vào Đức Giê-su Phục Sinh. Cách thức “thấy” và “tin” của người môn đệ này được đề cao trong trình thuật, đó là “thấy thực sự” và “tin thực sự”. Điều đáng chú ý là người môn đệ này “đã thấy” và “đã tin” khi “không thấy Đức Giê-su”, ông chỉ thấy ngôi mộ trống, thấy khăn che đầu và những băng vải. Ý tưởng “không thấy Đức Giê-su mà tin” sẽ là lời chúc phúc của Đức Giê-su ở cuối sách Tin Mừng Gio-an. Đức Giê-su nói với Tô-ma: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin? Phúc cho những người không thấy mà là những người tin” (20,29).

Hai động từ “thấy” và “tin” ở 20,8 không có bổ túc từ cho phép liên tưởng đến nhiều khía cạnh của hành động “thấy” và “tin”.[4] Những điều người môn đệ này thấy, không chỉ là thấy những băng vải, mà ông còn thấy ngôi mộ trống rỗng, thấy Đức Giê-su không còn đó. Xa hơn, gợi đến những gì môn đệ này đã thấy khi đứng dưới chân thập giá. Động từ “tin” ở 20,8 không có túc từ còn cho phép hiểu: Người môn đệ này không chỉ tin Đức Giê-su đã sống lại mà còn tin vào những lời Đức Giê-su đã nói, tin Đức Giê-su là Đấng Chúa Cha sai đến, tin Đức Giê-su là Đấng ban sự sống đời đời như Người đã nói. Tin ở cấp độ cao nhất là tin Đức Giê-su là “Chúa” và là “Thiên Chúa” như lời Tô-ma tuyên xưng trước Đấng Phục Sinh: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (20,28). “Thấy” và “tin” theo nghĩa tuyệt đối, không có túc từ, cho thấy người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đã hiểu ý nghĩa biến cố Thương Khó – Phục Sinh.

Đây là hành động “thấy” và “tin” không theo nghĩa bình thường mà theo nghĩa thần học như Đức Giê-su đã nói ở 6,40: “Đây là ý muốn của Cha Tôi: Tất cả những ai THẤY người Con và TIN vào Người thì có sự sống đời đời.” Tuy nhiên, giữa việc “thấy bằng mắt” (thấy thể lý) và “tin” có một khoảng cách lớn lao. Bởi lẽ ngôi mộ trống và những băng vải không phải là bằng chứng hiển nhiên về việc Đức Giê-su Phục Sinh. Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến chỉ thấy “dấu chỉ”, chứ không thấy Đức Giê-su sống lại. Kết thúc Tin Mừng, cũng là kết thúc sứ vụ của Đức Giê-su ở trần gian, chính Đức Giê-su đã chúc phúc cho ai “không thấy mà tin”. Lời Đức Giê-su nói với Tô-ma, cũng là lời Người chúc phúc cho các môn đệ qua mọi thời đại: “Phúc cho những người không thấy mà là những người tin” (20,29).

Tóm lại, 99 lần động từ “tin” xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an được phân bổ như sau: 50 lần nói về “Tin vào ai”; 19 lần đề cập đến “Tin vào điều gì”, và 30 lần động từ “tin” (pisteu,w) không có bổ túc từ.

III. Ba cấp độ tin vào Đức Giê-su


Đề tài “tin” trong Tin Mừng Gio-an chia làm ba cấp độ: (1) “Không thực sự tin vào Đức Giê-su”, (2) “Chưa thực sự tin vào Đức Giê-su” và (3) “Thực sự tin vào Đức Giê-su”.

1. Không thực sự tin vào Đức Giê-su (8,31)


Người thuật chuyện nói đến lòng tin của những người Do Thái ở 8,31-32: “31 Vậy, Đức Giê-su nói với những người Do Thái đã tin Người (tou.j pepisteuko,taj auvtw): ‘Nếu các ông ở lại trong lời của Tôi các ông thực sự là môn đệ của Tôi, 32 các ông sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ông.’” Lòng tin của những người Do Thái ở 8,31 có phải là lòng tin thực sự vào Đức Giê-su hay không? Nội dung trình thuật 8,31-59 sẽ trả lời câu hỏi này.

Nối tiếp đoạn văn 8,21-30 là đoạn văn 8,31-59. Trong đoạn văn 8,21-30 Đức Giê-su tranh luận với “những người Do Thái” (8,22) về sứ vụ của Người và về tương quan giữa Người với Chúa Cha. Đoạn văn tiếp theo (8,31-59) mở đầu bằng việc “Đức Giê-su nói với những người Do Thái đã tin Người” (8,31a), tuy nhiên nội dung đoạn văn 8,31-59 cho thấy tranh luận giữa Đức Giê-su và những người Do Thái ngày càng gay gắt cho đến hết ch. 8 (8,59).

Bối cảnh văn chương của hai đoạn văn 8,1-30 và 8,31-59 cho phép kết luận: Lòng tin của những người Do Thái ở 8,31 không phải là lòng tin đích thực vào Đức Giê-su. Họ đã không thực sự tin, vì họ đã không hiểu và không đón nhận giáo huấn của Đức Giê-su. Hơn nữa, họ đã phản ứng chống lại Đức Giê-su càng lúc càng dữ dội đến nỗi họ có ý định tìm giết Đức Giê-su (8,37.40). Sự kết án qua lại giữa Đức Giê-su và những người Do Thái rất nặng nề. Đức Giê-su nói với những người Do Thái: “Các ông thuộc về quỷ là cha các ông, và các ông muốn làm những ước muốn của cha các ông” (8,44a). Còn những người Do Thái, họ kết tội Đức Giê-su: “Ông là người Sa-ma-ri và là người bị quỷ ám” (8,48). Cuối đoạn văn họ đã ném đá Người. Trình thuật mở đầu bằng “những người Do Thái đã tin vào Đức Giê-su” (8,31) nhưng lại kết thúc: “Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su ẩn mình và đi ra khỏi Đền Thờ” (8,59).

Thái độ không đón nhận và thù nghịch với Đức Giê-su trong đoạn văn 8,31-59, không thể dung hoà được với lòng tin vào Người. Ngay từ đầu đoạn văn Đức Giê-su mời gọi những người Do Thái: “31b Nếu các ông ở lại trong lời của Tôi các ông thực sự là môn đệ của Tôi, 32 các ông sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ông” (8,31b-32). Nhưng nội dung đoạn văn cho thấy họ “không thực sự là môn đệ của Đức Giê-su” vì họ đã không “ở lại trong lời của Người”, nghĩa là họ đã không lắng nghe và đón nhận mặc khải của Đức Giê-su. Như thế, lòng tin của những người Do Thái ở 8,31 không phải là lòng tin đích thực. Cấp độ thứ hai của lòng tin theo nghĩa: “Chưa thực sự tin vào Đức Giê-su” thể hiện nơi đám đông dân chúng ở 2,23-25.

2. Chưa thực sự tin vào Đức Giê-su (2,23-25)


Người thuật chuyện tóm kết hoạt động của Đức Giê-su ở 2,23-25: “23 Trong lúc Người ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, nhiều kẻ đã tin vào danh của Người khi thấy các dấu lạ mà Người đã làm. 24 Nhưng Đức Giê-su, chính Người không tin họ, vì Người biết tất cả, 25 và Người không cần có ai làm chứng về con người, vì chính Người biết có gì nơi con người.”

Có sự nối kết giữa “thấy các dấu lạ” và “tin vào Đức Giê-su” trong câu 2,23. Người thuật chuyện dùng 2 lần động từ “tin” (pisteu,w) ở 2,23-24 với sự tương phản mạnh mẽ: Lần thứ nhất xuất hiện ở 2,23 cho biết nhiều người đã tin vào Đức Giê-su khi thấy những dấu lạ Người làm (2,23). Lần thứ hai xuất hiện ở 2,24 cho biết chính Đức Giê-su đã không tin vào niềm tin của họ (2,24). Như thế lòng tin của nhiều người trong trường hợp này chưa phải là “tin thực sự”. Đây là trường hợp “tin nhờ thấy dấu lạ”, nhưng lòng tin ấy chưa thoả đáng, cần được nuôi dưỡng và phát triển để đạt tới lòng tin đích thực.

3. Thực sự tin vào Đức Giê-su


Thế nào là thực sự tin vào Đức Giê-su, đề tài quan trọng này được Tin Mừng diễn tả nhiều cách và có thể xếp thành ba loại: (a) Tin đích thực nhờ dấu lạ; (b) Tin đích thực nhờ lời Đức Giê-su và (c) Tin đích thực nhờ lời các môn đệ.

a) Tin đích thực nhờ dấu lạ

Sau khi thực hiện dấu lạ đầu tiên: Nước lã hoá thành rượu ngon (2,1-11), người thuật chuyện kết thúc câu chuyện: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na, miền Ga-li-lê, Người đã tỏ vinh quang của Người, và các môn đệ của Người đã tin vào Người (evpi,steusan eivj auvto.n oi` maqhtai. auvtou/)” (2,11). Người thuật chuyện cho biết dấu lạ nước hoá thành rượu là cách thức Đức Giê-su bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã nhận ra điều đó và tin vào Người. Tuy trình bày ngắn gọn nhưng đây là lòng tin đích thực vào Đức Giê-su.

Dấu lạ đầu tiên ở Ca-na (2,1-21) gợi đến dấu lạ thứ hai ở Ca-na: Đức Giê-su chữa lành con của một quan chức nhà vua (4,46-54). Người thuật chuyện kết thúc dấu lạ thứ hai này như sau: “Ông ấy và cả nhà của ông đã tin” (4,53). Đây là cách dùng động từ “tin” không có bổ túc từ, nên hàm ẩn cả hai ý: “Tin vào Đức Giê-su” và “tin vào lời của Người”. Thực vậy, dấu lạ thứ hai tại Ca-na cũng đề cao việc “tin vào lời Đức Giê-su”. Khi viên quan chức nhà vua xin Đức Giê-su đến Ca-phác-na-um để chữa lành đứa con trai bị bệnh sắp chết (4,46-47), Đức Giê-su nói với ông ấy: “Nếu các ông không thấy dấu lạ, điềm thiêng, chắc chắn các ông không tin” (4,48). Viên quan chức nhà vua nói với Người: “Thưa Ngài, xin Ngài hãy xuống trước khi con tôi chết” (4,49). Đức Giê-su nói với ông ấy: “Ông hãy đi về, con ông sống” (4,50a). Người thuật chuyện cho biết: “Người này tin vào lời Đức Giê-su nói với mình và đi về” (4,50b). Như thế, dấu lạ chữa lành được thực hiện là nhờ viên quan chức đã “tin vào lời Đức Giê-su” (5,50b). Phần ở giữa hai dấu lạ tại Cana (2,1-12; 4,46-54) là trình thuật Đức Giê-su gặp gỡ người phụ nữ Sa-ma-ri (4,1-43). Trình thuật này mô tả loại thứ hai của niềm tin đích thực: Tin nhờ lời Đức Giê-su.

b) Tin đích thực nhờ lời Đức Giê-su

Cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa Đức Giê-su và người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp (4,7-9) về nước sự sống (4,10-15) và về cách thức thờ phượng Chúa Cha (4,20-24) kết thúc bằng niềm tin của những người Sa-ma-ri (4,39-42). Đây là trình thuật điển hình về “tin nhờ lời Đức Giê-su”. Thực vậy, sau khi nghe lời Đức Giê-su mặc khải, người thuật chuyện kể về người phụ nữ Sa-ma-ri: “28 Vậy người phụ nữ để lại vò nước của mình đi vào thành và nói với mọi người: 29 ‘Hãy đến và xem một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm, Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?’” (4,28-29). Chính người phụ nữ Sa-ma-ri dẫn dân thành Xy-kha đến gặp Đức Giê-su và sau đó người thuật chuyện cho biết: “Trong thành đó, nhiều người Sa-ma-ri đã tin vào Người, nhờ lời người phụ nữ làm chứng rằng: ‘Ông ấy nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm’” (4,39). Đây là trường hợp nhiều người tin nhờ lời chứng của người khác, cụ thể là nhờ lời chứng của người phụ nữ Sa-ma-ri. Chị ấy giữ vai trò sứ giả (báo cho biết) là chứng nhân (làm chứng về Đức Giê-su). Câu chuyện còn đi xa hơn khi kết thúc ở 4,40-42: “40 Vậy khi những người Sa-ma-ri đến với Người, Họ xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 và nhiều người hơn nữa đã tin, nhờ lời của Người. 42 Họ nói với người phụ nữ rằng: ‘Không còn phải vì lời của chị mà chúng tôi tin. Vì chính chúng tôi đã nghe và đã biết rằng Người thật là Đấng cứu độ thế gian.’” Nhờ lời người phụ nữ, “NHIỀU NGƯỜI đã tin vào Đức Giê-su” (4,39), và sau khi Đức Giê-su ở lại với những người Sa-ma-ri hai ngày, “NHIỀU NGƯỜI HƠN NỮA đã tin” (4,41), nhờ chính lời của Đức Giê-su. Như thế, người tin đã nhiều hơn trước đây và là “tin nhờ lời Đức Giê-su”. Điều gây chú ý là Đức Giê-su không làm dấu lạ nào ở Sa-ma-ri, Người chỉ nói chuyện, trao đổi và ở lại với họ. Đây là trình thuật điển hình
về “tin vào Đức Giê-su” nhờ “lời người khác” và nhờ “lời Đức Giê-su”.

c) Tin đích thực nhờ lời các môn đệ

Cuối sứ vụ công khai, trước khi đi về với Cha qua biến cố Thương Khó – Phục Sinh, Đức Giê-su ngỏ lời với Cha của Người trước sự hiện diện của các môn đệ như sau: “Như Cha đã sai Con đến thế gian, Con cũng sai họ đến thế gian” (17,18). Qua lời này Đức Giê-su gián tiếp trao cho các môn đệ sứ vụ, họ sẽ nối tiếp sứ vụ của Đức Giê-su. Các môn đệ được Đức Giê-su sai đi rao giảng và làm chứng về Người trong thế gian. Sau đó Người đã can thiệp với Cha của Người cho những ai tin vào Người nhờ lời các môn đệ. Đức Giê-su nói với Cha: “20 Con không chỉ can thiệp cho những người này, nhưng còn cho những người tin vào Con nhờ lời của họ, 21 để tất cả nên một, lạy Cha, như Cha trong Con và Con trong Cha để họ cũng ở trong Chúng Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (17,20-21).

Tóm lại, Tin Mừng Gio-an mở đầu bằng “tin vào Đức Giê-su nhờ dấu lạ” (2,1-12), sau đó là “tin vào Đức Giê-su nhờ lời của Người” (4,1-43). Tin Mừng kết thúc bằng “tin vào Đức Giê-su nhờ lời của các môn đệ rao giảng” (17,20). Giai đoạn thứ nhất là “tin nhờ thấy dấu lạ” và “nhờ nghe lời Đức Giê-su rao giảng”. Giai đoạn thứ hai là “tin nhờ lời rao giảng và lời chứng của các môn đệ”. Đây là giai đoạn sau khi Đức Giê-su đã được tôn vinh bên Cha, giai đoạn các môn đệ “không thấy Đức Giê-su mà vẫn tin vào Người” (x. 20,29). Như thế, đề tài “tin” trong Tin Mừng Gio-an luôn hướng về tương lai. Độc giả qua mọi thời đại được mời gọi tin vào Đức Giê-su nhờ lời chứng thuật lại trong sách Tin Mừng. Người thuật chuyện ngỏ lời với độc giả về mục đích của sách trong phần kết luận ở 20,30-31: “30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác trước mặt các môn đệ (của Người); chúng không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được ghi chép là để anh em tin rằng: Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; và nhờ tin, anh em có sự sống trong danh của Người.”

“Tin vào Đức Giê-su” là một hành trình suốt cả cuộc đời và người môn đệ sống niềm tin ấy trong mọi hoàn cảnh. Tin Mừng Gio-an cho thấy không dễ dàng sống tư cách người môn đệ và làm chứng cho niềm tin. Trong Tin Mừng Gio-an, các môn đệ đã rơi vào tình trạng khủng hoảng niềm tin.

IV. Khủng hoảng niềm tin


Có nhiều yếu tố trong Tin Mừng Gio-an làm lộ ra tình trạng khủng hoảng niềm tin nơi các môn đệ. Ngay từ ch. 6, sau diễn từ bánh sự sống (6,25-59), nhiều người trong số các môn đệ đã thốt lên rằng: “Lời này chướng tai quá! Ai có thể nghe nổi?” (6,60). Và đã xảy ra điều đáng tiếc: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ của Người bỏ đi và không còn đi với Người nữa” (6,66). Các môn đệ này đã tin vào Đức Giê-su và được gọi là “môn đệ”, nhưng họ lại không chịu nổi những lời Đức Giê-su mặc khải về nguồn gốc và căn tính của Người. Nguồn gốc nghịch lý, vì Đức Giê-su vừa là con ông Giu-se (6,42) vừa là Đấng từ trời xuống (6,38). Huyền nhiệm và nghịch lý trong căn tính vì Đức Giê-su sẽ chết trên thập giá để ban sự sống đời đời. Nghịch lý này diễn tả qua kiểu nói: “Ăn thịt và uống máu”. Đức Giê-su khẳng định: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì có sự sống đời đời, và Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (6,54). Như thế, chỉ những ai hiệp thông với Đức Giê-su trong biến cố Thương Khó – Phục Sinh của Người mới có thể đón nhận sự sống đời đời.[5]

Trong trình thuật Ga 13–17, xuất hiện nhiều yếu tố khủng hoảng trong cộng đoàn các môn đệ vào thời Đức Giê-su cũng như vào cuối thế kỷ I, lúc sách Tin Mừng được viết ra. Các yếu tố khủng hoảng như: Các môn đệ xao xuyến, sợ hãi, không biết, không hiểu lời Đức Giê-su; Phê-rô chối Thầy, Giu-đa nộp Thầy, những yếu tố này cho thấy các môn đệ đang bị khủng hoảng trầm trọng. Khủng hoảng vì “Đức Giê-su sắp đi về với Cha” (13,1), gợi đến khủng khoảng vì Đức Giê-su vắng mặt khi cộng đoàn gặp khó khăn thử thách. Cộng đoàn cảm thấy bị bỏ rơi vì Đức Giê-su không lên tiếng. Cộng đoàn như sống trong tình trạng “mồ côi” (14,18). Khủng hoảng còn đến từ bên ngoài cộng đoàn, khi các môn đệ bị “thế gian thù ghét và bách hại” (15,18–16,4a). Những khó khăn trên dẫn đến nguy cơ vấp ngã, mất niềm tin hay chối bỏ đức tin.

Trước những khó khăn xảy đến vì “tin vào Đức Giê-su” như trên, chính Đức Giê-su đã an ủi và khích lệ các môn đệ giữ vững niềm tin. Người nói: “Thầy nói với anh em từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin rằng: Thầy Là (evgw, eivmi)” (13,19); “Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy” (14,1). Đức Giê-su báo trước sự thử thách và bách hại (15,18–16,4a) để các môn đệ đừng vấp ngã. Người nói với các ông: “Những điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em không bị vấp ngã” (16,1). Lời cuối cùng Đức Giê-su nói với các môn đệ trong ch. 13–17 là lời khích lệ lớn lao cho người tin qua mọi thời đại. Diễn từ thứ hai (ch. 15–16) kết thúc với lời Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Những điều này, Thầy nói với anh em để trong Thầy, anh em có sự bình an. Trong thế gian, anh em có sự khốn khó, nhưng anh em hãy can đảm, chính Thầy đã thắng thế gian” (16,33). Đây là lời Đức Giê-su nói với các môn đệ trước khi bước vào cuộc Thương Khó, nhưng cũng là lời của Đấng Phục Sinh khích lệ cộng đoàn cuối thế kỷ I, và qua đó an ủi người tin qua mọi thời đang gặp khốn khó. Không chỉ có những lời khích lệ và mời gọi giữ vững niềm tin, Đức Giê-su còn ban tặng các môn đệ những giải pháp cụ thể để vượt qua thử thách.

V. Làm gì để giữ vững niềm tin?


Tin Mừng Gio-an cung cấp cho độc giả nhiều giải pháp cụ thể giúp vững mạnh lòng tin và vượt qua mọi thử thách. Phần sau sẽ bàn đến ba đề tài quan trọng: 1) “Ở lại trong nhau” (Đức Giê-su – môn đệ); 2) Sự ở lại của Chúa Cha, Đức Giê-su, Đấng Pa-rác-lê; 3) Bình an và niềm vui Đức Giê-su ban tặng; 4) Hoạt động của Đấng Pa-rác-lê[6] nơi các môn đệ.

1. “Ở lại trong nhau” (Đức Giê-su – môn đệ)


Lời mời gọi “ở lại trong nhau” (Đức Giê-su – môn đệ) được Đức Giê-su nói đến nhiều lần. “Ở lại trong nhau” theo thần học Tin Mừng Gio-an là bước vào tương quan với nhau một cách chủ động và từ cả hai phía. “Đức Giê-su ở trong các môn đệ” và “các môn đệ ở trong Đức Giê-su.” Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 14,20: “Trong ngày đó, anh em sẽ biết rằng: Thầy trong Cha Thầy, anh em trong Thầy và Thầy trong anh em.” Ở lại trong nhau là điều kiện để tồn tại và sinh hoa trái (x. 15,1-8). Đức Giê-su mời gọi các môn đệ: “Anh em hãy ở lại trong Thầy, như Thầy trong anh em. Như cành nho không thể sinh hoa trái tự nó nếu không ở lại trong cây nho, anh em cũng không, nếu anh em không ở lại trong Thầy” (15,4).

2. Sự ở lại của Chúa Cha, Đức Giê-su, Đấng Pa-rác-lê


Lời hứa về sự ở lại của Chúa Cha, Đức Giê-su và Đấng Pa-rác-lê nơi các môn đệ được trình bày trong đoạn văn 14,15-24. Ba đấng sẽ đến và ở lại nơi các môn đệ với điều kiện các môn đệ “yêu mến Đức Giê-su” và “giữ các điều răn của Người”. Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 14,15-16: “15 Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy; 16 và chính Thầy sẽ can thiệp với Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Pa-rác-lê khác để Người ở với anh em mãi mãi.” Đến 14,23, Đức Giê-su mặc khải cho các môn đệ biết: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời của Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Tôi sẽ đến với người ấy và sẽ làm chỗ ở nơi người ấy” (14,23). Sự ở lại của Ba Đấng nơi các môn đệ là nguồn khích lệ và an ủi lớn lao cho các môn đệ trong hoàn cảnh khó khăn.

3. Bình an và niềm vui Đức Giê-su ban tặng


Đức Giê-su hứa ban bình an và niềm vui của Người cho các môn đệ. Đề tài “niềm vui” và “bình an” trong ch. 14–17 mang đậm nét Ki-tô học. Đó là “bình an của Đức Giê-su” và “niềm vui của Đức Giê-su” chứ không phải của thế gian. Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Không như thế gian ban mà chính Thầy ban cho anh em. Lòng anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (14,27). Đức Giê-su mong muốn niềm vui của Người trở thành niềm vui của các môn đệ, khi Người nói với họ: “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em và niềm vui của anh em được trọn vẹn” (15,11). Đó là niềm vui trọn vẹn, bền bỉ vì không ai lấy mất được niềm vui này nơi các môn đệ. Đức Giê-su nói với các môn đệ trước biến cố Thương Khó: “Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ lại thấy anh em, và lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy khỏi anh em được” (16,22). Lời cuối cùng Đức Giê-su nói với các môn đệ trong ch. 13–17 là lời ban bình an và khích lệ: “Những điều này, Thầy nói với anh em để trong Thầy, anh em có sự bình an. Trong thế gian, anh em có sự khốn khó, nhưng anh em hãy can đảm, chính Thầy đã thắng thế gian” (16,33). Như thế, có niềm vui và bình an Đức Giê-su ban tặng sẽ giúp các môn đệ vượt qua thử thách. Họ không còn xao xuyến và sợ hãi nữa (14,1.27) cho dù phải gian khổ vì thuộc về Đức Giê-su.

Đề tài “niềm vui” và “bình an” trong ch. 14–17 có thể hiểu theo “chiều ngang” và theo “chiều dọc”. Cách hiểu theo chiều ngang phù hợp với bối cảnh lịch sử thời Đức Giê-su. Các môn đệ buồn rầu, sợ hãi, xao xuyến khi Đức Giê-su bước vào cuộc Thương Khó. Nhưng Đức Giê-su hứa ban niềm vui trong tương lai, khi Thầy trò gặp lại nhau sau biến cố Phục Sinh. Hiểu niềm vui và bình an theo chiều ngang đề cao biến cố nền tảng của niềm tin: Biến cố Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su. Biến cố này có khả năng đem lại bình an và niềm vui đích thực cho các môn đệ. Tuy nhiên, sau biến cố Phục Sinh cộng đoàn các môn đệ vẫn gặp thử thách và bách hại. Cách hiểu theo chiều dọc giúp các môn đệ sống và giữ vững niềm tin.

Thực vậy, cách hiểu theo chiều dọc về đề tài “niềm vui” và “bình an” được áp dụng cho cộng đoàn các môn đệ vào cuối thế kỷ I và cho người tin qua mọi thời đại. Trong Ga 14–17, Đức Giê-su không chỉ hứa ban niềm vui và bình an “trong tương lai” (sau biến cố Phục Sinh), nmà còn ban cho các môn đệ niềm vui và bình an của Người “trong hiện tại” (trong lúc các môn đệ đang xao xuyến và sợ hãi). Điều này rất quan trọng đối với cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ I, vì cộng đoàn này đang bị thế gian thù ghét và bách hại. Hiểu “niềm vui” và “bình an” theo chiều dọc là hiểu theo chiều từ trên xuống. “Bình an” và “niềm vui” của Đức Giê-su là ơn ban từ trên, nghĩa là nhờ “bình an” và “niềm vui” từ trên ban xuống mà các môn đệ có thể đón nhận hoàn cảnh đang sống và vượt qua thử thách trong hiện tại. Bình an và niềm vui của Đức Giê-su là những thực tại được ban từ trên cao, từ nơi Thiên Chúa. Cách hiểu theo chiều dọc này giúp các môn đệ sống trọn vẹn hai thực tại đối lập: “Niềm vui và nỗi buồn”, “khủng hoảng và bình an”. Nhưng các thực tại này được nhìn trên hai bình diện khác nhau: “Nỗi buồn” và “khủng hoảng” là thực tại thuộc về hạ giới (thế gian này); “niềm vui” và “bình an” của Đức Giê-su là thực tại thuộc về thượng giới (thế giới của Thiên Chúa).

Đọc và hiểu bản văn theo “chiều ngang” và “chiều dọc” như trên là một trong những nét độc đáo của thần học Tin Mừng Gio-an. Cách đọc này quan trọng vì vừa cho phép đề cao biến cố Thương Khó - Phục Sinh, vừa cho phép hiện tại hóa không ngừng hoàn cảnh sống của các môn đệ. Đức Giê-su còn mặc khải một giải pháp quan trọng khác, đó là vai trò và hoạt động của Đấng Pa-rác-lê.

4. Hoạt động của Đấng Pa-rác-lê nơi các môn đệ


Vai trò và hoạt động của Đấng Pa-rác-lê nơi các môn đệ là đề tài quan trọng trong ch. 14–16. Sau khi Đức Giê-su đi về với Cha của Người, Đấng Pa-rác-lê được gửi tới các môn đệ với điều kiện là các môn đệ “yêu mến Đức Giê-su” và “giữ các điều răn của Người” (14,15). Hoạt động phong phú của Đấng Pa-rác-lê nơi các môn đệ có thể quy về ba lãnh vực (1) Ở với và hướng dẫn các môn đệ; (2) Giảng dạy và làm cho các môn đệ biết; (3) Làm chứng “trước” và “trong” các môn đệ.[7]

(1) Trước hết, Đấng Pa-rác-lê sẽ “ở với” các môn đệ, “ở giữa” cộng đoàn và “ở trong” từng môn đệ mãi mãi (14,16-17). Đấng Pa-rác-lê ở lại, đồng hành với các môn đệ và dẫn họ “đi trong sự thật toàn vẹn” (16,12). Bất cứ ai “yêu mến Đức Giê-su và giữ các điều răn của Người” thì đã được Đấng Pa-rác-lê là Thần Khí sự thật, ở lại mãi mãi với mình rồi. Vì thế, theo thần học Tin Mừng Gio-an, người môn đệ không cần phải xin “Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật” đến với mình nữa. Thiết nghĩ điều ước nguyện là xin cho mình ý thức sự hiện diện và sự hướng dẫn của Thánh Thần ở nơi mình.

(2) Đấng Pa-rác-lê sẽ “dạy các môn đệ” tất cả những gì Đức Giê-su đã nói, và “làm cho các môn đệ nhớ lại” mọi giáo huấn của Đức Giê-su (14,26). Đấng Pa-rác-lê sẽ lấy những gì của Đức Giê-su mà loan báo cho các môn đệ (16,13-15). Đối với thế gian thù ghét, Đấng Pa-rác-lê sẽ cho các môn đệ biết sự thật về thế gian và số phận của thủ lãnh thế gian. Thế gian có tội vì đã không tin vào Đức Giê-su và thủ lãnh của thế gian đã bị xét xử rồi (16,8-11). Đấng Pa-rác-lê sẽ làm cho các môn đệ biết sự thật về Đức Giê-su và ý nghĩa của biến cố Thương Khó. Trên bình diện lịch sử, Đức Giê-su đã bị giết chết trên thập giá, nhưng trên bình diện mặc khải, đó là biến cố Đức Giê-su đi về với Cha của Người, đó là Giờ Người được tôn vinh và là Giờ Người tôn vinh Chúa Cha (13,31-32; 17,1).

(3) Đấng Pa-rác-lê còn giữ vai trò quan trọng là “làm chứng về Đức Giê-su” “trước” và “trong” các môn đệ. “Làm chứng trước các môn đệ”, vì Đấng Pa-rác-lê giúp các môn đệ hiểu biết và xác tín về sứ vụ và nguồn gốc của Đức Giê-su. Đấng Pa-rác-lê “làm chứng trong các môn đệ”, khi các môn đệ làm chứng về Đức Giê-su trước thế gian. Trong trường hợp này, Đấng Pa-rác-lê sẽ hướng dẫn, soi sáng từ bên trong, để các môn đệ can đảm làm chứng về Đức Giê-su trong mọi hoàn cảnh sống.

Nếu các môn đệ đón nhận những hoạt động phong phú của Đấng Pa-rác-lê được trình bày trong Tin Mừng Gio-an thì niềm tin của họ sẽ càng ngày càng được củng cố và vững mạnh. Nhờ đó các môn đệ có thể sống lòng tin trong niềm vui và bình an, cho dù còn phải đối diện với nhiều thách đố.

Kết luận


Phân tích trên cho thấy tầm quan trọng của động từ “tin” trong Tin Mừng Gio-an. “Tin” là một trong những từ xuất hiện nhiều nhất trong sách Tin Mừng này (99 lần). Đặc biệt Tin Mừng mở đầu bằng định nghĩa thế nào là “tin” (1,11-13) trong lời tựa sách Tin Mừng (1,1-18). Tiếp theo nội dung Tin Mừng cho biết thế nào là “không tin”, thế nào là “không thực sự” hay “chưa thực sự” tin vào Đức Giê-su, thế nào là “thực sự tin” và “tin” thì được lãnh nhận điều gì... Cuối cùng, Tin Mừng Gio-an kết thúc bằng lời mời gọi độc giả tin rằng: “Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; và nhờ tin, anh em có sự sống trong danh của Người” (20,31). Như thế, có thể gọi Tin Mừng Gio-an là “Tin Mừng của niềm tin”.

“TIN” là đề tài quan trọng, nhưng tin như thế nào? Tin vào ai? Và tin vào điều gì? Để “tin” con người cần mở lòng đón nhận giáo huấn của Thiên Chúa (6,45), cần được sinh ra bởi trên (3,3.7), đón nhận Đức Giê-su và bước vào tương quan lòng mến với Người. Tin vào ai? Tin Mừng mời gọi Tin vào Đức Giê-su như là Đấng từ trời xuống để ban sự sống đời đời cho người tin, Người là Đấng Chúa Cha sai đến thế gian để cứu thế gian khỏi sự hư mất (3,16-17). Tin vào Đức Giê-su cũng là tin vào Thiên Chúa là Cha của Đức Giê-su. Nội dung của niềm tin là gì? Tin Mừng Gio-an trình bày nội dung niềm tin qua công thức: “tin rằng:...” Với 9 nội dung niềm tin như đã trình bày, Tin Mừng Gio-an cho biết cách “sống”, “thực hành” và “tuyên xưng” niềm tin. Thiết nghĩ, điều quan trọng hơn cả của hành động “tin” là bước vào tương quan tình yêu, cách mới mẻ và sống động, với Đức Giê-su, với Chúa Cha và với anh chị em mình. Đó là niềm tin có khả năng đem lại “sức sống” và “sự sống” đích thực cho con người. Nhờ tin, người môn đệ được lãnh nhận sự sống đời đời ngay bây giờ, ngay đời này và sự sống ấy sẽ nên trọn vẹn trong đời sau.

Người tin xác tín rằng: Tin vào Đức Giê-su thì có sự sống đời đời, nhưng hành trình làm môn đệ trong thế gian này vẫn còn nhiều thử thách cam go. Có trường hợp người tin phải hy sinh cả mạng sống mình để bảo toàn “tình yêu”, “lòng trung tín” và “sự sống đích thực” mà Đức Giê-su đã ban tặng. Vậy phải làm gì khi bị khủng hoảng niềm tin? Tin Mừng Gio-an đưa ra nhiều giải pháp để các môn đệ có thể giữ vững niềm tin. Cụ thể là Đức Giê-su mời gọi các môn đệ gắn kết với Người qua việc “ở lại trong Người” và để “Người ở lại trong mình.” Tương quan với Đức Giê-su dựa trên “biết”, “tin” và “yêu” này tạo nên sức mạnh tâm linh giúp các môn đệ đứng vững trong thử thách. Đức Giê-su còn hứa sự ở lại của Ba Đấng nơi người tin. Chúa Cha, Đức Giê-su và Đấng Pa-rác-lê hiện diện và ở lại nơi những ai yêu mến và giữ các điều răn của Đức Giê-su. Đây là khích lệ lớn lao khi người môn đệ cảm thấy mình như bị bỏ rơi. Dù còn nhiều gian lao khốn khó trong thế gian, người tin đã có niềm vui và bình an của Đức Giê-su ban tặng. Quà tặng niềm vui và bình an không làm biến mất những khó khăn thử thách nhưng giúp người tin đón nhận và sống trọn vẹn thực tế cuộc sống; bởi vì niềm vui và bình an của Đức Giê-su ban tặng đã trở thành niềm vui và bình an của chính mình. Một trong những điểm độc đáo của Tin Mừng Gio-an là vai trò và hoạt động của Đấng Pa-rác-lê nơi các môn đệ. Những hoạt động phong phú đa dạng của Đấng Pa-rác-lê sẽ giúp các môn đệ giữ vững niềm tin, không vấp ngã trước mọi thử thách và can đảm làm chứng về Đức Giê-su.

Với cách trình bày chi tiết liên quan đến nhiều khía cạnh của đề tài “tin”, Tin Mừng Gio-an đã góp phần quan trọng cho độc giả qua mọi thời đại. Những ai muốn nếm hưởng sự sống đích thực nhờ “tin vào Đức Giê-su” có thể tìm đến Tin Mừng Gio-an. Những ai muốn sống niềm tin cách sống động, muốn củng cố niềm tin đã có, hay muốn vượt qua khủng hoảng niềm tin... đều có thể tìm thấy những câu trả lời cụ thể và thiết thực trong Tin Mừng Gio-an./.

Tài liệu tham khảo của Giuse Lê MinhThông, O.P.


  1. Bản văn Gio-an, TIN MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt, Nxb. Tôn Giáo, 2011, 340 tr.
  2. ĐẤNG PA-RÁC-LÊ – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, Nxb. Tôn Giáo, 2010, 376 tr.
  3. KHỦNG HOẢNG VÀ GIẢI PHÁP cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, Nxb. Tôn Giáo, 2010, 316 tr.
  4. Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, Nxb. Phương Đông, 2010, 228 tr.

________
[1] Tất cả trích dẫn bản văn Tin Mừng Gio-an lấy trong Giu-se LÊ MINH THÔNG, Bản văn Gio-an, TIN MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt, Nxb. Tôn Giáo, 2011.
[2] Công thức “pisteu,w + tặng cách (dative)” với đối tượng là con người đã trình bày ở trên.
[3] Xem phân tích đoạn văn Ga 11, 11,1-54 về “chết” và “sống” trong Giu-se LÊ MINH THÔNG, Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, 2010, tr. 147-185.
[4] Xem bài viết Ga 20,1-9: “Ông đã thấy và đã tin” (20,8). Ai thấy? Thấy gì? Tin gì?” tại http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com.
[5] Xem phân tích đoạn văn Ga 6,1-71 trong Giu-se LÊ MINH THÔNG, Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, 2010, tr. 110-146.
[6] Đấng Pa-rác-lê, tiếng Hy Lạp: para,klhtoj, là Thánh Thần, Thần Khí sự thật, xem giải thích tại sao lại gọi là “Đấng Pa-rác-lê” trong Giu-se LÊ MINH THÔNG, ĐẤNG PA-RÁC-LÊ – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, 2010, tr. 73-80.
[7] Xem phân tích chi tiết về hoạt động của Đấng Pa-rác-lê trong Giu-se LÊ MINH THÔNG, ĐẤNG PA-RÁC-LÊ – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, 2010, tr. 153-330.
Read More

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

ĐỨC TIN TRONG THẦN HỌC

Thời sự Thần học - Số 58, tháng 11/2012, tr. 11-44

Giuse Phan Tấn Thành, O.P.


Dàn bài

I. Kinh Thánh
  A. Cựu ước: 1. Từ ngữ, 2. Ý niệm
  B. Tân ước: 1. Tin Mừng nhất lãm, 2. Thánh Gioan, 3. Thánh Phaolô
II. Lịch sử Giáo hội
  A. Thời các giáo phụ
  B. Thời Trung cổ
  C. Cuộc Cải cách Tin lành
  D. Thời cận đại
III. Đức tin trong các chuyên ngành thần học
  A. Thần học cơ bản: Các tiền đề dẫn đến đức tin.
  B. Thần học tín lý: 1. Tin như hành động, 2. Tin như tập quán: nhân đức tin, 3. Tin xét về chủ thể và đối thể, 4. Tín điều và gia sản đức tin
  C. Thần học luân lý: 1. Tin và cứu độ, 2. Tin linh hoạt, 3. Tin và tuyên xưng, 4. Những tội trái nghịch đức tin
  D. Thần học tâm linh: 1. Sống đức tin, 2. Trưởng thành đức tin

Viết tắt: GLCG = Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo

Dẫn nhập


Đức tin trong thần học” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Thần học vốn được quan niệm như là “sự suy tư về đức tin” (cogitatio fidei). Đức tin theo sát tiến trình làm việc của thần học (auditus fidei, intellectus fidei, praxis fidei). Điều này hàm ngụ rằng đức tin là linh hồn của thần học: nếu không có đức tin thì thần học mất ý nghĩa. Mặt khác, nếu đối tượng nghiên cứu của thần học là các chân lý đức tin thì đức tin bao trùm hết mọi lãnh vực của thần học. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi dưới một góc cạnh khác: thần học nói gì về đức tin? đức tin đã đặt ra những vấn đề gì cho thần học? Đây là đối tượng khảo sát của bài này. Đức tin được thần học nghiên cứu trong nhiều lãnh vực chuyên ngành, và mỗi ngành thường chỉ quan tâm đến vài vấn đề đặc thù; vì thế nên có một cái nhìn tổng hợp.
Trước hết, chúng ta hãy lần lượt duyệt qua những vấn đề liên quan đến đức tin trong Kinh Thánh và lịch sử Giáo hội; kế đó, chúng ta điểm qua những khía cạnh của đức tin được bàn trong thần học nền tảng, thần học tín lý, thần học luân lý, thần học tâm linh.

Trước khi vào đề, thiết tưởng nên lưu ý đến việc dịch thuật: fides (tiếng Latinh, foi tiếng Pháp; faith tiếng Anh) không nhất thiết có nghĩa là “đức tin”. Đôi khi chỉ là “niềm tin, lòng tin, tín ngưỡng”, hoặc đơn thuần là: “tin tưởng, tín thác”, nghĩa là những thái độ được áp dụng trong cuộc sống hằng ngày[1]. Đây mới chỉ là một nhận xét sơ khởi, bởi vì sau này, thần học sẽ còn phân biệt nhiều hình thức và cấp độ của tin: tự nhiên/siêu nhiên; hành vi/nhân đức; chủ thể/khách thể, v.v..

I. Kinh Thánh


Ta cũng có thể khẳng định rằng thế giới Kinh Thánh cũng có một nét giống với thế giới Việt Nam về phương diện từ ngữ. Thật vậy những từ ngữ nói đến “tin” được áp dụng trong đời sống thường nhật trước khi nói đến những thực tại cao siêu.

A. Cựu ước


1. Từ ngữ

Hai từ ngữ Do thái thường dùng hơn cả là aman và batak.

a) Động từ Aman, xét theo nguyên ngữ, có nghĩa là: đeo, mang (thí dụ mang đứa con trên tay: Ds 11,12; R 4,16; 2Sm 4,4); theo nghĩa bóng, aman là dựa vào ai, nương tựa, tin tưởng. Do động từ aman mà có thán từ (hay trạng từ) amen, có nghĩa là: đúng thế, chắc rồi, chính xác!

b) Batak nói lên ý tưởng: trông cậy, tín thác. Như vậy, tin có nghĩa là: trông mong, hy vọng, tin tưởng.

Những từ ngữ này được dùng trong đời sống hằng ngày, cách riêng trong bối cảnh của mối tương quan xã hội, nhưng ở đây chúng ta giới hạn vào tương quan giữa con người với Thiên Chúa.

2. Ý niệm

Những ý tưởng vừa gợi lên (nương tựa, tín thác) của việc tin được kiện toàn dần dần trải qua tiến trình mạc khải của Thiên Chúa cho Israel: thời tổ phụ Abraham, thời xuất hành của Mosê, thời các ngôn sứ, thời các nhà hiền triết[2].

a) Lịch sử bắt đầu với ông Abraham. Hồi ấy ông tin thờ các thần khác. Thế rồi, Thiên Chúa hiện ra với ông, hứa ban cho ông một vùng đất màu mỡ và con cháu đông đúc (St 12,1). Lời hứa ấy xem ra xa vời, nhưng ông vẫn tin vào Thiên Chúa (St 15,6), tin vào lời hứa của ngài. Ông tin rằng Thiên Chúa trung tín với lời hứa và có khả năng thực hiện. Ông tín thác vào ngài, và thậm chí sẵn sàng hy sinh đứa con của mình khi ngài đòi hỏi. Ông trở thành khuôn mẫu của một kẻ có lòng tin (Hc 44,20) và tổ phụ của những kẻ có lòng tin (Rm 4,9-11).

b) Lịch sử mạc khải Cựu ước bước sang một chặng quyết liệt khi Thiên Chúa can thiệp vào cuộc giải thoát dân Israel ra khỏi cảnh nô lệ Ai cập. Thiên Chúa của các tổ phụ đã thăm viếng đoàn dân đang bị áp bức. Thiên Chúa gọi ông Mosê, và hứa sẽ ở với ông trong công cuộc dẫn dắt Israel vào đất hứa (Xh 3,11-15). Ông Mosê đã đáp lại bằng niềm tin (Dt 11,23-29). Ông được đặt làm kẻ môi giới giữa Thiên Chúa với dân: ông thông đạt chương trình của Chúa cho dân, và kêu gọi họ hãy tin vào Chúa, hết lòng tín thác vào ngài (Ds 14,11; Xh 19,9). Tin có nghĩa là vâng nghe (Đnl 9,23), đáp lại amen (Đnl 27,9-6) với lời Chúa, được biểu thị qua giao ước. Như vậy, tin không chỉ là một lời thưa chấp thuận nhưng còn là thái độ trung thành kéo dài qua năm tháng. Niềm tin thường được lặp lại qua những cuộc tuyên xưng (Đnl 6,4-9; 26,5-9; Tv 78; 105): dựa trên việc kỳ diệu của Thiên Chúa đã làm cũng như thâm tín quyền năng và lòng trung tín của Ngài (Tv 136), dân Israel khẳng định ý chí dành tất cả tâm trí để yêu mến một mình Thiên Chúa mà thôi.

c) Tin có nghĩa là tín thác vào lời hứa; tin có nghĩa là chấp nhận giao ước, và biểu lộ qua việc tuyên xưng. Các ngôn sứ còn vạch ra những yêu sách khác của đức tin, khi đụng đến những hoàn cảnh khác nhau của lịch sử.

– Hệ luận quan trọng của niềm tin vào Thiên Chúa là từ bỏ các ngẫu tượng. Israel luôn bị cám dỗ chạy theo các vị thần của các tôn giáo của dân láng giềng, nhất là khi niềm tin được gắn liền với những phúc lộc trước mắt: tiền của, hoa màu ruộng đất, thắng lợi quân sự. Khi thấy các dân lân bang được những thành quả ấy, Israel bị cám dỗ muốn chạy theo các thần của họ (chẳng hạn thần Baal) vì nghĩ rằng các thần ấy “thiêng” hơn là Giavê, Thiên Chúa của các tổ phụ. Các ngôn sứ không những tố cáo tội thờ ngẫu tượng (Hs 2,7-15; Gr 2,5-13) bởi vì đó là đồ hư ảo (Gr 2,25), mà cả việc cứu viện các cường quốc bởi vì làm như vậy là cậy dựa vào binh mã nhân loại thay vì tin tưởng vào sự che chở của Thiên Chúa (Hs 1,7; Is 31,1). Các ngôn sứ nhắc nhở dân Israel hãy bình tĩnh tín thác vào Thiên Chúa. Thiên Chúa là đá tảng của dân (Is 44,8; 50,10), Đấng trung tín với lời hứa, mạnh mẽ hơn các thần của Babylonia (Is 44,6; 43,8-12; Tv 115,7-11).

– Đức tin của dân Israel đã trải qua một cuộc thử thách nặng nề khi họ chứng kiến cảnh tàn phá đền thờ và cảnh lưu đày sang Babylonia. Các ngôn sứ giải thích rằng đây là một hình phạt về tội bất trung với giao ước, đã được cảnh cáo nhiều lần. Không phải là Thiên Chúa bỏ rơi Israel, nhưng là Israel đã bỏ Chúa, khi họ tìm sự nương tựa nơi các thế lực nhân loại và ngay cả khi việc thờ phượng của họ rỗng tuếch. Dù nói gì đi nữa, nếu có ai nghi ngờ quyền năng Thiên Chúa trước thảm họa này thì cũng là điều dễ hiểu. Thế nhưng trong hoàn cảnh hầu như tuyệt vọng ấy, các ngôn sứ thời lưu đày đã đào sâu hơn khía cạnh bền bỉ của niềm tin vào Thiên Chúa: tin không chỉ có nghĩa là giữ vững lòng tin tưởng kể cả lúc gặp thử thách, nhưng tin còn có nghĩa là hy vọng bất chấp mọi hoàn cảnh trái ngược. Thật vậy, giữa cảnh nước mất nhà tan, các ngôn sứ loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đưa dân trở về quê hương, sẽ tái thiết xứ sở. Để củng cố niềm tin tưởng ấy, các ngôn sứ nại đến chân lý về sự tạo dựng: Thiên Chúa có quyền năng tạo dựng vạn vật từ hư vô, thì Ngài cũng có dư sức để tái lập dân Israel hiện đang tản mát nơi đất khách quê người.

d) Các sách Khôn ngoan mở rộng đối tượng của niềm hy vọng: người tín hữu tin tưởng rằng Thiên Chúa không chỉ hứa ban thưởng những phúc lộc ở đời này (tài sản phong phú, con cháu đầy đàn), nhưng nhất là những điều thiện ở đời sau. Vào giai đoạn cuối của Cựu ước, chúng ta thấy thêm một chiều kích mới của đức tin: tin vào Thiên Chúa kể cả vào những lúc bị thử thách, tựa như ông Giób, và thậm chí ngay cả khi người tín hữu bị bách hại (2Mc 7; Đn 12,2; Kn 2,3; 3,1-9).

Như vậy, quan niệm về niềm tin được tiến triển dần dần: từ chỗ tín thác vào lời hứa, đến chỗ chấp nhận giao ước; từ việc chấp nhận giao ước đến việc trung thành với giao ước; từ việc trung thành với giao ước đến chỗ mở tầm nhìn đến những thực tại không thuộc thế giới này. Song song với sự kiện toàn ý niệm là sự kiện toàn những tâm tình về phía con người: từ chỗ tin tưởng vào một thần linh quyền năng, đến chỗ lắng nghe Lời Chúa, tuyên xưng những kỳ công của Chúa, trung thành với Luật Chúa kể cả khi phải hy sinh mạng sống.

B. Tân ước


Xét về từ ngữ, Tân ước đỡ phức tạp hơn, bởi vì thường chú trọng vào danh từ pistis[3]. Tuy nhiên, xét về nội dung thì phong phú hơn Cựu ước. Trong Cựu ước, tin là tín thác vào Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử của dân tộc. Trong Tân ước, sự can thiệp của Thiên Chúa dồn vào thân thế và công trình của đức Kitô. Tin bao gồm nhiều khía cạnh:

– Tin có nghĩa là chấp nhận sứ điệp mà đức Kitô mang lại, đó là ơn cứu độ được Thiên Chúa ban cho nhân loại qua cái chết và phục sinh của Đức Giêsu. Tuy đó là một biến cố lịch sử nhưng nó được diễn tả thành sứ điệp, vì thế nó bao hàm khía cạnh đạo lý. Tin là một hành vi có chiều kích tri thức: chấp nhận sứ điệp được rao giảng qua ngôn ngữ và nếp sống.

– Tuy nhiên, tin không chỉ giới hạn vào lãnh vực hiểu biết. Tin đòi hỏi sự tuân phục, tín thác vào tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ nơi việc trao ban Con của Ngài. Tin cũng kèm theo một cuộc thay đổi não trạng và nếp sống.

Đó mới chỉ là những nét khái quát. Mỗi tác giả Tân ước khai triển một vài khía cạnh đặc thù tùy theo nhu cầu của mỗi giáo đoàn cụ thể.

1. Tin Mừng nhất lãm

Tin có ba nghĩa: tin tưởng vào quyền năng của Đức Giêsu (x. Mc 2,5; 5,34); chấp nhận Tin Mừng mà Đức Giêsu rao giảng (Mc 1,15; 16,16.17); chấp nhận chính Đức Giêsu.

a) Tin có nghĩa là tín thác vào lòng tốt và quyền năng của Đức Giêsu. Điều này được nêu bật nơi thánh Marcô. Tin là điều kiện tiên quyết để Chúa làm phép lạ: họ phải tin tưởng Người. Người không thể làm phép lạ nào ở Nazareth bởi vì dân thiếu lòng tin (Mc 6,5-6). Ngược lại, Người nói với ông Giairô đã mất người con gái: “Đừng sợ; chỉ cần tin thôi” (Mc 5,36).

b) Tin có nghĩa là chấp nhận Tin Mừng do Đức Giêsu rao giảng. Điều này được thấy ngay từ đầu Tin Mừng Marcô: “Thời gian đã viên mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần kề; hãy thống hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15) cũng như vào lúc kết thúc cuốn sách: “Hãy ra đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo. Ai tin và lãnh phép rửa thì sẽ được cứu rỗi” (Mc 16,15-16). Tin vào Tin Mừng có nghĩa là chấp nhận rằng Thiên Chúa đã can thiệp vào thế giới nơi bản thân, lời nói và lời giảng của Đức Giêsu. Vì thế, ai muốn vào vương quốc Thiên Chúa thì phải chấp nhận những điều kiện mà Đức Giêsu đặt ra. Điều này đòi hỏi một cuộc hoán cải, thay đổi não trạng.

c) Tin có nghĩa là chấp nhận bản thân Đức Giêsu. Đây là bước thứ ba: từ chỗ chấp nhận lời giảng về Đức Giêsu đến chỗ chấp nhận bản thân Người: Người là Chủ tể (Kyrios). Điều này xảy ra sau cuộc Phục sinh, và được nhấn mạnh trong sách Tông đồ công vụ (x. các kerygma). Dù sao, thánh Luca diễn tả thái độ này qua những hành động cụ thể: đi theo đức Kitô, vác thập giá (Lc 9,23), làm chứng và tuyên xưng (Lc 12,8-9).

2. Thánh Gioan

Tin chiếm một địa vị nổi bật trong các tác phẩm của thánh Gioan. Động từ pisteuein (tin) được dùng 98 lần trong Tin Mừng thứ bốn và 9 lần trong các thư; còn danh từ pistis chỉ được dùng 1 lần trong 1 Ga 5,4 (“Đây là điều làm cho chúng ta thắng được thế gian: lòng tin của chúng ta”). Xem ra thánh Gioan quan tâm đến lối sống hơn là đến đạo lý. Tuy vậy, ở cuối Tin Mừng, tác giả viết như sau: “Những điều này đã được ghi chép ngõ hầu anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống đời đời” (20,31). Chúng ta hãy tìm hiểu ba điểm liên quan đến: đối tượng, bản chất, hiệu quả của việc tin.

a) Đối tượng. Tin vào Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu (8,31.45.46; 10,37.38; 14.11). Đức Giêsu là Đấng Kitô (11,27; 20,31), kẻ được Chúa Cha sai đến (11,42; 17,8.21), là Con Thiên Chúa (20,31), kẻ từ Chúa Cha mà đến (16,27.30). Chúa Cha với Đức Giêsu là một (10,30; 17,21).

b) Bản chất. Thánh Gioan quan niệm “tin” như là một tiến trình gặp gỡ. Cùng với động từ “tin”, tác giả còn dùng những động từ đồng nghĩa tựa như: “đến với” (5,40; 6,35.44ff.65; 7,37), “tiếp đón” (1,12; 5,43), “yêu mến” (8,42; 14,15.21.23f.28; 16,27). Tin là một tiến trình năng động: nó tăng trưởng tiệm tiến, từ những bước khởi đầu đến chỗ hoàn bị, từ chỗ đón nhận Đức Giêsu vì phép lạ đến chỗ đó chấp nhận Người mà không cần phép lạ. Vài thí dụ: 4,46-53 (sĩ quan cận vệ, động từ tin được nói đến ở câu 50 và 53, với hai cấp độ); 4,39-42 (người dân Samaria tin vì nghe lời thuật của người phụ nữ và tin vì nghe lời của Chúa); chương 9 (người mù: so sánh câu 17 với câu 38).

c) Hiệu quả. Tin liên quan đến chuyện sinh tử: số phận vĩnh cửu của con người tùy thuộc vào việc tin hay không tin: “Ai tin thì sẽ không bị xét xử, ai không tin thì đã bị xét xử rồi” (3,18). Ai tin vào Con thì được sự sống hằng hữu (3,36; 6,40.47; 20,31). Tin dẫn đến sự sống vĩnh cửu; không tin dẫn tới hư vong. Tin mang tính quyết định đến số phận vĩnh hằng. Tin mở đường đến hạnh phúc đời đời; nhờ tin mà chúng ta biết Chúa, ở lại trong đức Kitô.

Ngoài ra, “tin” và “yêu” liên kết với nhau: tin dẫn đến yêu; nhưng tin cũng là kết quả của yêu, bởi vì tin là kết quả của ơn thánh Chúa. Tin là một hồng ân.

3. Thánh Phaolô

Tin là vâng theo lời Chúa được biết nhờ việc rao giảng (Rm 10,17; 16,26; 1,5; 2 Cr 9,13; 10,5; 2 Tx 1,8). Ông Abraham là tấm gương của đức tin bởi vì ông vâng theo lời Chúa nói cho ông. Tin là một tâm tư nội tâm nhưng cũng bao hàm việc tuyên xưng bên ngoài miệng nữa (Rm 10,9).

Lời giảng và lời tuyên xưng đều có một nội dung: “Đức Giêsu là Chúa; Người đã chịu chết trên thập giá vì tội chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã cho Người chỗi dậy vào ngày thứ ba” (1Cr 15,3; x. 1 Tx l,9t; Rm 10,4; Cl 2,12; Ep 1,20; Gl 1,1; Rm 4,25, v.v..). Tin Mừng là đức Kitô. Phàm ai tin vào Thiên Chúa thì cũng chấp nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi đức Kitô. Vì thế đức Kitô là đối tượng của đức tin.

Đức tin là khởi đầu của tiến trình cứu độ, được đặt tên là “ơn được nên công chính” (công chính hóa). Tuy nhiên sự nhấn mạnh đến chỗ “duy chỉ đức tin mới làm nên công chính chứ không vì giữ luật” (Rm 3,28) đã đưa đến những giải thích cực đoan khiến cho thánh Giacôbê phải lên tiếng (Gc 2,14-16; xt. Mt 7,21). Thực ra trong các lá thư, ở phần khuyến thiện, thánh Tông đồ đã nói nhiều đến việc uốn nắn cuộc đời sao cho phù hợp với Tin Mừng.

Người ta nhận thấy rằng trong những thư đầu tiên, thánh Phaolô nhấn mạnh đến quyền năng và sức mạnh của Lời Chúa hay của Tin Mừng, nhưng trong những thư mục tử, Người bận tâm đến “đạo lý” và khuyên răn Timôthê hãy “giữ gìn đạo lý” (1Tm 6,20; 2 Tm 1,14), “đạo lý lành mạnh” (1Tm 1,10; 2Tm 4,3; Tt 1,9; 2,1). Đây là một “gia sản” (depositum: paratheke) được ủy thác và cần phải giữ gìn cẩn thận.

Tuy ngày nay các học giả không coi thánh Phaolô là người viết Thư gửi người Hipri, nhưng tư tưởng của nó gần gũi với thánh Tông đồ. Tác giả dành trọn chương 11 để trưng bày mẫu gương của các chứng nhân đức tin, với lời mở đầu như sau: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy”. Thánh Tôma Aquinô đã nhận thấy nơi đây một định nghĩa cho nhân đức tin (Summa Theologica, II-II, q.4, a.1), gồm bởi hai yếu tố:

– đối thể: những điều tương lai mà ta trông mong;

– chủ thể: xác tín, kiên trì[4].

Tóm lại, pistis trong Tân ước là một thực thể phong phú bao hàm nhiều khía cạnh.

– Khía cạnh tri thức: hiểu biết về bản thân và sứ điệp của Đức Giêsu.

– Khía cạnh tin tưởng vào sự chân thành của Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta nơi đức Kitô. Sự tín thác kèm theo niềm hy vọng rằng những lời Chúa hứa sẽ được thực hiện (Dt 11,9-11; Rm 4,17-20; 1Pr 1,5-9). Hy vọng phát sinh sự kiên trì và chung thủy (2Tm 4,7; Rm 1,5; Gl 5,6).

– Hiệu quả: đức tin mang lại đời sống mới (ơn trở nên công chính; thụ tạo mới).

Khi đối chiếu giữa quan niệm “tin” trong Cựu ước và Tân ước, các tác giả nhận thấy sự liên tục và sự mới mẻ. Sự liên tục ở điểm là tin bao hàm thái độ tín thác, tin tưởng vào Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử; sự mới mẻ ở chỗ đối tượng của sự can thiệp của Thiên Chúa được biểu lộ cách cụ thể nơi Đức Giêsu Kitô: kể từ nay, ai tin vào Thiên Chúa thì cũng phải tin vào Đức Giêsu Kitô. Như vậy trong Tân ước, tin mang thêm một chiều kích, đó là chấp nhận đức Kitô. Điều trớ trêu là khi đọc Tin Mừng, ta thấy những người không tin đức Kitô là những người Do thái; họ không phải là người vô thần, và phần lớn rất trung thành với Luật Mosê. Trong bối cảnh ấy, ta dễ hiểu vì sao Tân ước nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đức tin, tin vào lời giảng của chính Đức Giêsu và lời giảng của Hội thánh. Đức tin cần thiết để được cứu rỗi. Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ để chứng minh sứ mệnh của mình, nhưng phép lạ chưa đủ để tin. Cần thái độ cởi mở, cũng như hợp tác với ân sủng. Ngoài ra, vài vấn nạn khác cũng được nêu lên trong cộng đoàn tiên khởi: tương quan giữa tin và biết, tin và thấy, tin và làm, mà thánh Phaolô, thánh Gioan và thanh Giacobê tìm cách trả lời.

II. Lịch sử Giáo hội


Ở đây chúng tôi không có tham vọng kể ra tất cả những lạc thuyết trái nghịch với đạo lý đức tin, nhưng chỉ ghi nhận vài điểm liên quan đến bản chất của đức tin.

A. Thời các giáo phụ


Có thể chia làm hai giai đoạn, lấy thánh Augustinô làm mốc.

1. Trước thánh Augustinô

Các giáo phụ nhấn mạnh đến sự quan trọng của đức tin để được cứu rỗi. Đức tin được ấn định qua các “quy luật đức tin” (regula fidei).

Các giáo phụ cũng phải trả lời nhiều vấn nạn của các triết gia đương thời. Vì thế vấn đề tương quan giữ đức tin và triết học được đặt ra. Vài giáo phụ không ngần ngại khẳng định rằng đức tin là cửa dẫn vào “triết học chân chính” (minh triết sophia, gnosis), còn triết học chỉ chuẩn bị cho đức tin. Theo thánh Giustinô, triết học chứa đựng những mầm của “lý” (logos) còn đức Kitô là chính Lời (Logos). Clêmentê Alexandria đặt tên cho đạo lý về Thiên Chúa là philosophia. Nói thế không có nghĩa là coi nhẹ triết học; ngược lại, cần phải dùng triết học để chuẩn bị và bảo vệ đức tin. Origene cũng theo chiều hướng đó, nghĩa là đức tin là đỉnh cao của tri thức, tuy không quên nhấn mạnh rằng tri thức đức tin còn hướng dẫn cuộc sống và các hành vi, đòi hỏi cuộc dấn thân luân lý. Cần thiết phải có những đức tính luân lý, chẳng hạn như tâm tình vâng phục, kiên nhẫn, thì mới có thể đạt đến sự hiểu biết mầu nhiệm. Khuynh hướng huyền bí được phát triển cách riêng nơi các giáo phụ Cappađôxia[5].

2. Thánh Augustinô

Một trong những đề tài suy tư của thánh Augustinô là tương quan giữa lý trí và đức tin, được phát biểu nơi công thức “intellige ut credas, crede ut intelligas"[6]. Có một tác dụng hỗ tương giữa hai phía. Lý trí giữ vai trò chuẩn bị trí tuệ; đức tin mang đến gia tài chân lý. Cần phải chấp nhận đức tin để có thể nắm bắt được nó, mặc dù đức tin vẫn luôn cần được làm sáng tỏ: "fides quaerit, intellectus invenit". Đức tin thúc đẩy sự suy tư[7]. Đối với thánh Augustinô, sự hiểu biết cao cấp nhất (chân lý) thuộc về đức tin chứ không phải là của lý trí (triết học).

Dù sao, trên đường hiểu biết chân lý đức tin, thánh nhân đặt nặng tác động nội tại của Chúa Thánh Thần. Ngoài ra, ngài cũng nhìn nhận vai trò quan trọng của Hội thánh: “giả như không có thế giá của Hội thánh Công giáo thì tôi sẽ chẳng tin vào Tin Mừng được.”[8]

Đức tin mang tính năng động: con người tiến gần đến Chúa, gắn bó với Chúa, và sẵn sàng hy sinh những chuyện thế sự vì đức tin. Vì thế khi nói đến đức tin mang lại ơn cứu độ, thì đó không chỉ là chấp nhận chân lý mà thôi, nhưng còn là hoán cải và yêu mến.

Tóm lại, thánh Augustinô đã để lại cho hậu thế nhiều suy tư về hành vi đức tin, và cách riêng là sự phân biệt giữa hai khía cạnh: fides quae (khía cạnh khách thể; nội dung đức tin); fides qua (khía cạnh chủ thể; việc chấp nhận đạo lý)[9]. Một thuật ngữ khác là credere Deum, credere Deo, credere in Deum. “Credere Deum” nói đến đối tượng của đức tin; “credere Deo” nói đến động lực của đức tin; “credere in Deum” thêm vào khía cạnh hiện sinh, khi con người ký thác tất cả cuộc đời cho Thiên Chúa.

B. Thời Trung cổ


Tương quan giữa đức tin và lý trí vẫn còn là trọng tâm nghiên cứu của thần học thời Trung cổ. Vào giai đoạn đầu của kinh viện, thánh Anselmô tiếp tục đường hướng của thánh Augustinô qua công thức “fides quaerens intellectum”, dùng lý trí để làm sáng tỏ nội dung đạo lý đức tin. Tuy nhiên dần dần kinh viện áp dụng triết học Aristôte để phân tích cấu trúc của việc “tin” (hành vi của lý trí và hành vi của ý chí), và dần dần mất đi chiều kích cứu độ của đức tin. Điều này đã gây ra phản ứng nơi khuynh hướng “thần học đan tu” (theologia monastica) của thánh Bênađô và Bonaventura, nhấn mạnh đến sự cần thiết nuôi dưỡng đức tin bằng cầu nguyện, ngõ hầu cảm nghiệm về Thiên Chúa, sống kết hiệp với Ngài bằng tâm tình.

Thánh Tôma Aquinô cố gắng trình bày một cái nhìn toàn diện về đức tin. Tin là một nhân đức hướng Chúa: đức tin nằm trong tiến trình hướng đến ơn cứu độ. Đức tin là khởi điểm của sự sống vĩnh cửu (II-II, q.4,1). Để tin cần có những dấu chỉ khả tín (lời giảng, dấu lạ, lý luận), nhưng chừng ấy chưa đủ. Tin là do chính Thiên Chúa là Chân lý thông ban mình ở bên trong con người [10]. Yếu tố quyết định của đức tin là tác động của ân sủng, được ví như là ánh sáng và bản năng. Sự xác tín đức tin dựa trên ánh sáng ấy chứ không phải do sự hiển minh nội tại. Tuy nhiên, mặc dù ánh sáng đức tin vượt quá khả năng lý trí nhưng không hủy diệt lý trí; trái lại, nó nâng cao lý trí và đưa lý trí đến mục tiêu mà nó nhắm. Cũng nên thêm rằng người tín hữu vào thời Trung cổ nhận được một sự hỗ trợ cho đức tin ở nơi cơ cấu văn hóa xã hội của họ.

C. Cuộc Cải cách Tin Lành


Phong trào Cải cách hồi thế kỷ XVI đã gây ra một sự xung khắc trong Giáo hội về quan điểm đức tin.

Đối với Lutêrô, tin là tin tưởng vào lời hứa của Chúa, và phó thác cho lòng Chúa khoan nhân. Đối với ông, con đường dẫn đến Thiên Chúa không phải là sự suy tư của con người, nhưng là sự tin tưởng vô điều kiện. Ông coi nhẹ giá trị của chân lý; nhưng rồi chủ đề chân lý lại được Melanthon và Calvin quan tâm.

Phản ứng lại quan điểm về niềm tin như là tin tưởng phó thác, công đồng Trentô nhấn mạnh đến việc lý trí chấp nhận đạo lý mạc khải. Việc chấp nhận này chứng tỏ con người muốn quy hướng về Thiên Chúa, và được triển nở nhờ đức cậy và đức mến, là những thành tố của việc được trở nên công chính. Như vậy, bên Tin Lành nhấn mạnh khía cạnh tin tưởng và phó thác vào Chúa; bên Công giáo nhấn mạnh đến sự chấp nhận đạo lý mạc khải, và như vậy nêu bật khía cạnh tri thức cũng như vai trò của huấn quyền Giáo hội. Thật ra đó là hai khía cạnh của đức tin bổ túc lẫn nhau chứ không trái nghịch nhau. Tiếc rằng bầu khí tranh luận sôi nổi của thời ấy không cho thấy điều đó. Bên Tin lành có lý khi nhấn mạnh đến chiều kích tương quan tín thác; nhưng nếu chỉ dừng lại ở chỗ này thì sẽ đưa đến thái độ chủ quan, như thực sự đã xảy ra. Phía Công giáo có lý khi nêu bật chiều kích khách thể của đạo lý mạc khải, cũng như hoạt động của lý trí và ý chí; nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì có nguy cơ thu hẹp đức tin vào một mớ kiến thức, như thực sự đã xảy ra. Phải chờ những cuộc đối thoại đại kết mới đạt được cái nhìn đa diện như sẽ thấy ở công đồng Vaticanô II.

D. Thời cận đại


Lịch sử cận đại bên châu Âu được đánh dấu với nhiều cuộc cách mạng chính trị, xã hội, tôn giáo. Sau cuộc ly khai giữa Công giáo và Tin lành là những cuộc cách mạng chính trị xã hội muốn khai trừ tôn giáo ra khỏi xã hội. Về mặt văn hóa, người ta đề cao vai trò của lý trí và khoa học thực nghiệm, và đồng hóa tín ngưỡng với mê tín. Trong bối cảnh này, thần học bị dồn vào thế phòng thủ, tìm cách kháng cự những công kích của đối phương; đó là lý do của sự phát triển của ngành hộ giáo (apologetica).

Công đồng Vaticanô I tìm cách chứng tỏ rằng đức tin không mâu thuẫn với lý trí. Tuy rằng chân lý đức tin vượt quá sự hiểu biết của lý trí nhưng không phải là phi lý. Có những dấu chỉ bên ngoài giúp cho lý trí xác nhận tính hữu lý của đức tin. Tuy nhiên, động lực tất yếu của đức tin là thế giá của Thiên Chúa là Đấng không thể nào sai lầm và Ngài không lường gạt ai.[11]

Trong thế kỷ XX, cách riêng từ sau thế chiến thứ hai, những luồng triết học hiện sinh có khi muốn nhấn mạnh đến tương quan liên bản vị, có khi lại muốn đi tìm ý nghĩa cuộc đời. Công đồng Vaticano II đã nắm bắt khía cạnh tích cực ấy khi phân tích đức tin dưới nhãn giới của đối thoại gặp gỡ cũng như hy vọng, như ta thấy trong các hiến chế Dei verbum[12] và Gaudium et spes. Công đồng cũng đề cập đến phần rỗi của những người không biết Tin Mừng, bao gồm các tín đồ thuộc các tôn giáo khác cũng như những người vô tín ngưỡng.

Trải qua lịch sử của Dân Chúa trong Cựu ước và Tân ước, ta thấy TIN đặt ra khá nhiều vấn đề. Không lạ gì mà đề tài ấy được phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau trong những chuyên ngành thần học.

Trong phần còn lại của bài này, chúng tôi chỉ mô tả vắn tắt những đề tài được thảo luận chứ không đi sâu vào chi tiết

III. Đức tin trong các chuyên ngành thần học


Chúng tôi xin phân ra làm bốn chuyên ngành: căn bản, tín lý, luân lý, tu đức. Dĩ nhiên, sự phân phối này không mang tính chặt chẽ: một đề tài có thể được bàn trong nhiều ngành khác nhau.

A. Thần học cơ bản


Trước đây, môn này mang tên là “hộ giáo” (Apologetica), nhằm đến ba mục tiêu chính: 1/ cho thấy rằng ngoài những chân lý mà lý trí có thể khám phá được còn có những chân lý chỉ có thể biết được do mạc khải và chấp nhận bằng đức tin; đức tin vượt quá lý trí nhưng không phi lý, bởi vì có những chứng cớ hợp lý để tin; 2/ cho thấy rằng Thiên Chúa đã mạc khải trong lịch sử Israel và đặc biệt nơi Đức Giêsu; điều này được xác nhận nhờ các ngôn sứ và phép lạ; 3/ cho thấy rằng mạc khải của Chúa Kitô được truyền thụ trong Hội thánh do Người thiết lập, và Hội thánh chân chính là Hội thánh Công giáo được cai quản bởi đức Giáo hoàng kế vị thánh Phêrô, vì hội đủ nhờ bốn dấu chỉ (duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền).

Ngày nay, người ta muốn giảm đi tính cách tranh biện, và cố gắng trình bày đức tin trong tiến trình con người đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Thần học cơ bản trình bày những bước dẫn vào đức tin (praeambula fidei), những lý chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, những dấu khả tín của mạc khải[13]; nói tắt là “giải thích những lý do của niềm hy vọng” (1Pr 3,15).

Người ta cũng phân tích động lực (hoặc yếu tố tâm lý) của việc tin: tin là tác động của lý trí và ý chí, nhưng không được phép bỏ qua tác động của ơn thánh. Đây là cả một câu chuyện hóc búa: làm thế nào dung hòa giữa tác động của con người với tác động của ơn thánh? Phải chăng con người phải khởi động, rồi ơn thánh sẽ trợ lực? Hay là phải nói rằng cần ơn thánh kích động từ bước đầu tiên đến chỗ hoàn tất? Dù sao thì không thể tính toán cách máy móc kiểu như tỉ số đóng góp trong một công ty! Có người phát biểu sự hợp tác giữa ơn thánh và tự do với công thức: “tất cả đều là ơn thánh và tất cả đều là của con người”.

Đôi khi thần học cơ bản cũng tiếp tục bàn thêm những vấn đề khác, chẳng hạn như tương quan giữa lý trí và đức tin[14], hoặc vai trò của lý trí đối với đức tin (nghĩa là chính chức năng của khoa thần học). Vấn đề này được bàn trong “Nhập môn thần học”[15].

B. Thần học tín lý


Xét về đề tài Tin, thần học cơ bản và thần học tín lý có nhiều điểm trùng hợp với nhau. Dưới một phương diện nào đó, dựa theo tựa đề của tự sắc của tông huấn Porta fidei, ta có thể tạm phân biệt như thế này: thần học cơ bản tìm hiểu những cửa dẫn vào đức tin; thần học tín lý tìm hiểu cánh cửa mà đức tin dẫn tới (tức là mầu nhiệm Thiên Chúa).

Trong thần học tín lý, Tin được nhìn phân tích dưới nhiều khía cạnh: tin như hành vi (actus) hay như tập quán (habitus); tin xét về phía chủ thể (fides subjectiva) và tin xét về phía đối thể (fides obiectiva); tin và tín điều (dogma); tín điều và kho tàng đức tin (depositum fidei).

1. Tin như là hành vi (actus)

Theo thánh Tôma, “tin là một hành vi của trí tuệ chấp nhận chân lý thần linh, do ý chí thúc giục và nhờ ơn thánh lay động.”[16]

– Tin là một hành vi tự do của con người, tin tưởng phó thác cũng như chấp nhận chân lý. Tin bao hàm toàn thể con người, như một cuộc gặp gỡ cũng như suy phục.

– Tin cũng là một tác động của ơn Chúa, thúc giục, soi sáng và lôi cuốn con người đến với ngài.

Tin vừa là một hành vi của con người vừa là một hành vi của Thiên Chúa. Con người có thể khước từ việc tin, bởi vì lý trí không hiểu được nội dung của chân lý mạc khải. Do đó, lý trí chấp nhận tin nhờ ý chí thúc đẩy (khi cho thấy điều tốt của việc tin) cũng như nhờ tác động của ơn Chúa. Vì thế tin là một hành vi tự do và có công phúc.

Thánh Tôma giải thích tính cách tự do của việc tin xét vì đối tượng của nó không hiển minh. Công đồng Vaticanô II mở rộng thêm nhãn giới của tự do nhìn dưới khía cạnh tâm lý. Không ai có thể bị cưỡng bách chấp nhận đức tin: con người chỉ bị thu hút bởi sức mạnh của chân lý, chứ không thể bằng bạo lực (x. GLCG số 160).

2. Tin như một tập quán (habitus): nhân đức tin

Như đã nói ở đầu, trong các ngôn ngữ Âu châu, fides (faith, foi) chỉ có nghĩa là tin (lòng tin, niềm tin), chứ không hẳn là đức tin. Thực vậy, việc áp dụng danh từ “nhân đức” (arete tiếng Hylạp, virtus tiếng Latinh) cho bộ ba “tin cậy mến” là do các giáo phụ, và cụ thể là thánh Gregôriô Cả (k.540-604)[17]. Tin là một nhân đức, “nhờ đó chúng ta tin tưởng vào Chúa và chấp nhận tất cả những gì Ngài phán dạy và mạc khải... bởi vì Ngài là chân lý” (GLCG số 1814).

– Tin là một nhân đức siêu nhiên, do Thiên Chúa ban chứ không do thủ đắc. Do đó, đức tin khác với “tín ngưỡng” là một cảm thức tự nhiên của con người. Là một nhân đức, tin có tính cách bền vững, chứ không chỉ là một cảm giác thoảng qua. Hơn thế nữa, đức tin còn ví như ánh sáng, được thông dự vào sự hiểu biết của Thiên Chúa, nhờ đó con người nhìn thấy và phán đoán vạn vật theo nhãn giới của Thiên Chúa.

– Bản chất của đức tin: chấp nhận điều Thiên Chúa mạc khải là chân thật.

– Động lực của đức tin: dựa trên uy quyền của Thiên Chúa (chứ không dựa trên sự hiển minh của chân lý), là Đấng chân thật.

Thường đức tin được nhìn trong tương quan với chân lý, và do đó thuộc về lãnh vực trí tuệ. Thật ra đức tin chi phối toàn thể con người, bao hàm cả khía cạnh tâm tình nữa. Ngôn ngữ thời nay thích quan niệm tin như là một cuộc gặp gỡ, một tương quan tâm giao. Trên thực tế, tiếp theo thánh Augustinô[18], thánh Tôma đã nhận xét rằng các bản văn cổ điển của kinh Tin kính đã diễn tả ba chiều kích đức tin qua công thức: credere Deum, credere Deo, credere in Deum[19].

– Credere Deum: Tin Thiên Chúa (hiện hữu)

– Credere Deo: Tin tưởng Thiên Chúa (vì ngài đã chân thật)

– Credere in Deum: Tín thác vào Thiên Chúa (với lòng yêu mến)

Cũng đừng quên rằng Thiên Chúa chúng ta tin thờ là Tình yêu[20], Thiên Chúa Tam vị: Chúa Cha đã cử Đức Giêsu đến để mạc khải cho nhân loại và lôi kéo họ về với mình; đức Kitô đã biểu lộ tình yêu Thiên Chúa bằng lời nói việc làm, đặc biệt là nhờ thập giá; Thánh Linh mở lòng con người để gắn bó với chân lý.

3. Tin xét như chủ thể và xét như đối thể

a) Đức tin xét về phía chủ thể tức là về phía người tín hữu (fides qua creditur): tin có nghĩa là tin tưởng, phó thác, gắn bó.

b) Đức tin xét về phía khách thể (hay đối thể: fides quae creditur) là những “đạo lý đức tin” (doctrina fidei). Những đạo lý này do Thiên Chúa mạc khải và do Hội thánh xác nhận (definire: tuyên bố tín điều). Như vậy, tin có nghĩa là chấp nhận các đạo lý.

Như đã nói trên đây, trong các thế kỷ gần đây, phía Tin lành nhấn mạnh khía cạnh chủ thể, còn phía Công giáo nhấn mạnh đến khía cạnh đối thể. Công đồng Vaticanô II kết hợp cả hai chiều kích[21].

Tuy rằng đức tin nhắm đến chính Thiên Chúa, và đức tin cũng là hồng ân mà Chúa tác động trên mỗi người, nhưng trên thực tế, nhờ Hội thánh mà chúng ta biết được mạc khải của Chúa, và chúng ta sống đức tin giữa lòng cộng đồng Hội thánh. Điều này dẫn ta đến chiều kích Hội thánh của đức tin.

4. Tin - tín điều (dogma) - gia sản đức tin (depositum fidei)

Dưới khía cạnh khách thể, đạo lý đức tin được liên kết với tín điều và gia sản đức tin

a) Tin và tín điều

Xét về phương diện từ ngữ thì trong tiếng Việt “tin” và “tín điều” rất gần gũi nhau, nhưng trong tiếng Latinh thì không thế: dogma là một từ gốc Hy-lạp. Vào thời cổ, dogma có nghĩa là nghị quyết, sắc lệnh (nghĩa pháp luật), hoặc là học thuyết, quan điểm (nghĩa triết học). Mãi đến sau công đồng Vaticanô I, dogma mới được sử dụng theo nghĩa hiện nay, đó là: “một đạo lý được Huấn quyền tuyên bố như là chân lý mạc khải (veritas revelata) được chứa trong gia sản đức tin (depositum fidei).

Vào thời các giáo phụ và kinh viện, các “tín điều” được gọi bằng những danh xưng khác, chẳng hạn: quy luật đức tin (regula fidei, regula veritatis, canon veritatis), tín biểu (symbolum fidei), tín cơ (articulus fidei: đoạn, khúc trong cơ thể). Dù dưới nhiều danh xưng khác biệt, nhưng thời nào Giáo hội cũng gặp phải những hoàn cảnh tương tự buộc phải xác định đạo lý của niềm tin, đó là: tuyên xưng và rao giảng.

– Tuyên xưng đức tin, đặc biệt trước khi gia nhập đạo. Đó là nguồn gốc của các “tín biểu rửa tội”. Việc tuyên xưng cũng còn diễn ra trong các buổi cử hành phụng vụ, và đó là nguồn gốc của các “vinh tụng ca”.

– Rao giảng. Việc công bố sứ điệp đòi hỏi một nội dung, như ta đã thấy nơi các kerygma trong Tân ước. Việc xác định nội dung đạo lý lại trở nên cần thiết hơn nữa khi có những dị giáo, lạc giáo. Đây là nguồn gốc của các “tín biểu công đồng” (thí dụ: Constantinopolis I, Trento), và của những lần tuyên bố tín điều (definitio dogmatica).

Trong khái niệm về tín điều, cần phân biệt hai yếu tố: chất thể và mô thể

– Chất thể: phải là một chân lý do Thiên Chúa mạc khải

– Mô thể: chân lý ấy đã được Huấn quyền tuyên bố.

Chúng ta buộc phải tin vào những chân lý do Chúa mạc khải (fides divina); nhưng chúng ta biết được chân lý mạc khải là nhờ Huấn quyền xác nhận (fides catholica). Huấn quyền không “tạo ra” tín điều, nhưng chỉ xác nhận, định nghĩa chính xác tín điều vì nó nằm trong gia sản đức tin.

b) Gia sản đức tin

Thuật ngữ “gia sản đức tin” (depositum fidei, cũng được dịch là “kho tàng đức tin”) lấy từ Tân ước (paratheke: 1 Tm 6,20; 2 Tm 1,13 tt), và được sử dụng nhiều trong các văn kiện huấn quyền trong thế kỷ XIX-XX (thí dụ: Vatican I, Dei Filius, Vatican II, Lumen gentium 25; Dei verbum 10). Ta không nên hiểu theo nghĩa vật chất là một ngân hàng hoặc văn khố lưu trữ các đạo lý đức tin, nhưng theo nghĩa thiêng liêng, nhằm nói đến vai trò của Hội thánh là trung thành bảo vệ những chân lý cũng như những hồng ân cứu độ của Chúa Giêsu. Hội thánh không phải là chủ nhân các chân lý ấy, nhưng Hội thánh đã lãnh nhận gia sản từ các thánh tông đồ và có sứ mạng truyền thông những hồng ân ấy cho mọi thời đại. (x. GLCG số 84; 857; 891; 2035).

Hội thánh giữ gìn gia sản không như một món đồ cổ, nhưng như một thực thể sinh động. Hội thánh phải tìm cách đào sâu sự hiểu biết các đạo lý mạc khải, và tìm những ngôn ngữ thích đáng để diễn tả đạo lý cho con người ở những nơi và những thời khác nhau.

Công đồng Vaticano II nhìn nhận sự tiến triển (progressus) trong việc hiểu biết chân lý mạc khải (Dei Verbum, số 8), nhờ những nhân tố sau: - nghiền ngẫm suy niệm Lời Chúa; - học hỏi; - cảm nghiệm tâm linh; - Huấn quyền. (x. GLCG số 94).

Nói cho cùng, “chân lý” ở đây không phải là cái gì trừu tượng, nhưng chính là đức Kitô (Ga 1,14; 14,6). Thánh Linh đến giúp Hội thánh hiểu biết chân lý hơn, có nghĩa là hiểu biết đức Kitô hơn, yêu mến Người hơn, cũng như để cho Người chiếm ngự Hội thánh hơn.

C. Thần học luân lý


Thần học luân lý bàn về những gì phải làm hoặc phải tránh, điều gì là tốt điều gì là tội. Ta có thể kể ra vài điểm chính.

1. Đức tin cần thiết để được cứu rỗi (GLCG số 161; 1253-1255)

Mệnh đề này có thể hiểu theo hai nghĩa:

a) Theo các tác giả Tin Mừng, tin là điều kiện để được cứu rỗi (x. Mc 16,16; Ga 3,16-18; 5,24). Tuy nhiên, một câu hỏi đã sớm nảy lên: những người không có đức tin thì sao? Tình trạng này không do lỗi tại họ, nhưng chỉ vì họ chưa được nghe giảng Tin Mừng. Các nhà thần học kinh viện đã tìm cách trả lời bằng cách phân biệt tình trạng đức tin ám tàng (implicita: tin rằng Thiên Chúa hiện hữu và là đấng thưởng phạt, dựa theo Dt 11,6), và tin minh nhiên (explicita). Đối với những người chưa được nghe loan báo Tin Mừng, thì đức tin ám tàng cũng đủ. Sang thế kỷ XX, các cuộc tranh luận trở nên sôi nổi hơn, liên quan đến sự cứu rỗi của những người ngoài Kitô giáo.

b) Từ thời Cải cách Tin lành, một đề tài trở thành sôi nổi, liên quan đến tiến trình trở nên công chính (iustificatio), được công đồng Trentô bàn trong Sắc lệnh về việc công chính hóa (Decretum de iustificatione, khóa VI, ngày 13/1/1547). Tiến trình này bao gồm nhiều hành vi: hoán cải, thay đổi tâm tư não trạng, chế ngự các bản năng dục vọng. Tiến trình thanh luyện này cũng cần sự can thiệp của ơn Chúa.

2. Đức tin linh hoạt (fides operativa)

Xem ra trong cộng đồng các Kitô hữu tiên khởi đã có người giải thích tư tưởng thánh Phaolô, và cho rằng chỉ cần tin là đủ nên công chính. Họ quên lời căn dặn của ngài là đức tin cần được linh hoạt nhờ đức ái (Gl 5,6). Vì thế thánh Giacôbê có lý để nói rằng đức tin mà không có việc làm là đức tin chết (Gc 2,17).

Dựa theo các đoạn văn vừa kể, thần học nói đến đức tin “sống” (hoàn hảo, fides formata) khi được kết hiệp với đức ái; đối lại là đức tin “chết” (bất toàn, fides informis), là tình trạng của người mất ân nghĩa với Chúa (phạm tội trọng). Đức tin vẫn tồn tại chứ không mất (dựa theo công đồng Trento: Denz.-Sch.1578). Đức tin chỉ bị mất khi phạm tội “vô tín” (infidelitas). Nên lưu ý là danh từ này khó dịch, như sẽ nói dưới đây.

3. Việc tuyên xưng đức tin

Con người là một hữu thể gồm cả hồn cả xác, một sinh linh sống trong cộng đồng xã hội. Do đó, niềm tin trong tâm hồn bộc phát ra bên ngoài qua những dấu hiệu của lời nói và việc làm, mà ta gọi là “chứng tá”. Cách riêng, việc chứng tá bằng lời nói được gọi là “tuyên xưng”. Có khi Tân ước nói đến sự tuyên xưng như cái gì tự phát từ con tim (x. Rm 10,10), nhưng đôi khi sự tuyên xưng trở thành một nghĩa vụ, vì bày tỏ trước mặt xã hội lòng gắn bó với Chúa Giêsu (x. Mt 10,32), kể cả đến mức độ hy sinh mạng sống, như trường hợp của các vị tuẫn giáo.

Việc tuyên xưng đức tin được giáo luật quy định cho vài trường hợp, đặc biệt khi đảm nhận vài chức vụ (Bộ Giáo luật điều 833).

4. Những tội trái nghịch đức tin (GLCG 2087-2089)

Có nhiều thứ tội và cấp độ, được các tác giả phân loại dựa theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau:

a) Xếp theo sự trái nghịch với bổn phận

– Tội trái nghịch với bổn phận phải tin: vô tin, phản đạo.

– Tội trái nghịch với bổn phận tuyên xưng đức tin: giấu diếm, chối bỏ đức tin.

– Tội trái nghịch với bổn phận phải bồi dưỡng đức tin: không học hỏi giáo lý.

– Tội trái nghịch với bổn phận phải tránh những cơ hội nguy hiểm cho đức tin.

b) Xếp theo mặt tiêu cực hoặc tích cực

– Tiêu cực là bỏ không làm (omissio): không chu toàn bổn phận phải học hỏi, tuyên xưng, v.v..

– Tích cực là phạm tội chống lại đức tin (commissio). Người ta thường kê ra bốn tội: vô tín, lạc giáo, bội giáo, ly giáo.

· Vô tín (infidelitas). Theo nguyên ngữ, in-fidelitas có nghĩa là “không trung thành” (bất trung, bất tín). Tiếc rằng trong quá khứ, từ ngữ infideles cũng được gán cho những người “ngoại đạo” cũng như “vô đạo”[22], từ đó đưa đến sự đồng hóa giữa người “vô đạo” với người “phản đạo”. Thánh Tôma phân biệt hai hoàn cảnh infidelitas: tiêu cực (negativa, materialis) và tích cực (positiva, formalis). Hoàn cảnh thứ nhất (những người ngoại đạo) không phải là tội luân lý; hoàn cảnh thứ hai mới là tội, khi từ chối không tin chân lý mạc khải.

· Lạc giáo (haeresis) là ngoan cố chối bỏ một chân lý phải tin với đức tin hướng Chúa và công giáo, hoặc ngoan cố hồ nghi về chân lý ấy sau khi đã lãnh nhận bí tích rửa tội.

· Bội giáo (apostasia) là chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô giáo.

· Ly giáo (schisma) là từ chối vâng phục Đức Giáo hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Hội thánh dưới quyền ngài.

Mặt khác, mê tín (superstitio) và cuồng tín (fanatismus) cũng có thể coi như trái nghịch với đức tin. Những thái độ này có khi bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về đức tin, nhưng cũng có khi do sự lạm dụng đức tin (hoặc tín ngưỡng) vào những mục tiêu chính trị thương mại.

5. Những khung cảnh bất lợi cho đức tin

Trên đây, chúng ta đã nói đến “đức tin chết” khi không được liên kết với đức ái. Thiết tưởng ngày nay, dưới phương diện mục vụ, chúng ta cũng nên lưu ý đến môi trường bất lợi khiến cho việc chấp nhận và thực hành đức tin trở nên khó khăn, tựa như: thái độ lãnh đạm tôn giáo, não trạng duy lý hay duy vật, chủ thuyết hoài nghi (không chấp nhận có chân lý tuyệt đối), môi trường thế tục hóa, v.v..

D. Thần học tu đức


Có thể nói được rằng những ngành thần học trên đây nghiên cứu đức tin ở thế “tĩnh”; còn thần học tu đức thì theo dõi đức tin ở thế “động”

1. Sống đức tin

Đức tin cần được nuôi dưỡng để được sinh động. Dựa theo ba thành tố của đức tin, ta có thể nói như sau:

– Xét dưới khía cạnh tri thức, đức tin cần được bồi dưỡng nhờ học hỏi, lắng nghe;

– Xét dưới khía cạnh ý chí, đức tin cần được bồi dưỡng nhờ tình yêu và các nhân đức khác;

– Xét như là ân huệ, đức tin cần được bồi dưỡng nhờ cầu nguyện, bí tích.

2. Sự tăng trưởng đức tin

Chúng ta thường nghe những người than phiền vì đã “mất đức tin”, nhưng đức tin đâu phải là một viên ngọc cất trong túi và có thể rớt mất! Đức tin là một cái gì sống động, và vấn đề quan trọng được đặt ra là: đức tin èo ọt, đức tin yếu ớt, đức tin vững mạnh. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhiều lần trách các môn đệ là “kém tin” (Mt 8,20; 16,8-9), “yếu tin” (Mt 14,30-31); và họ cũng thú nhận: “Lạy Chúa, chúng con tin, nhưng tăng thêm đức tin cho chúng con” (Mc 9,24).

Trên đây chúng tôi đã nói đến sự tiến triển của Hội thánh trong việc đào sâu hiểu biết gia sản đức tin. Ở đây chúng tôi chú ý đến sự tăng trưởng nơi cá nhân của mỗi cá nhân. Đức tin của chúng ta có thể tăng về phía đối thể, khi chúng ta hiểu biết sâu rộng hơn các đạo lý; đồng thời đức tin có thể tăng về phía chủ thể khi chúng ta tin tưởng phó thác vào Chúa hơn.

Sự tăng trưởng này có thể được nghiên cứu bằng nhiều lối tiếp cận: tâm lý, thần học, huyền bí.

a) Tiếp cận tâm lý: những chặng tiến triển tâm lý

Khoa tâm lý tôn giáo đã mô tả những chặng tiến triển của “tín ngưỡng” nơi con người, cũng tương tự như sự tiến triển tâm lý, từ ấu trĩ đến trưởng thành[23]. Chúng tôi không muốn đi sâu vào khía cạnh này, nhưng chỉ dùng một khái niệm rất cơ bản để phân biệt mức độ trưởng thành, đó là từ chỗ nhận lãnh đến chỗ trao ban, giống như các nhi đồng mong chờ được mọi người chú ý săn sóc, và người trưởng thành thì quan tâm đến tha nhân. Một cách tương tự như vậy, trong lãnh vực đức tin, sự trưởng thành có thể nhận thấy ở chỗ trở nên chứng tá và thông đạt niềm tin của mình cho tha nhân, tham gia vào sứ vụ truyền giáo của Hội thánh (tự sắc Porta fidei, số 7).

Một quan điểm khác nhấn mạnh đến sự trưởng thành trong ý thức mối tương quan với Thiên Chúa: từ cảm giác mông lung về Đấng Thiêng Liêng của tín ngưỡng đến sự khám phá Thiên Chúa là Cha do Đức Giêsu mạc khải; từ chỗ giữ đạo vì sợ sệt hay vụ lợi, đến chỗ yêu mến phụng thờ Chúa vì Ngài là Đấng Cao cả và đầy yêu thương.

b) Tiếp cận thần học

Thánh Tôma diễn tả sự tiến triển của các nhân đức dựa theo cấu trúc: từ nhân đức đến linh ân (ân huệ Thánh Linh). Trong bước đầu của nhân đức, con người gắng công thực tập; khi tiến đến chặng linh ân, con người để cho Thánh Linh dìu dắt. Đối với đức tin, thánh Tôma chú ý cách riêng đến ơn thâm hiểu (giúp chúng ta hiểu thấu các mầu nhiệm mạc khải) và ơn minh luận (giúp chúng ta đánh giá mọi sự theo viễn tượng của Chúa)[24].

Trong bối cảnh này, chúng ta có thể nói đến “cảm thức đức tin” (sensus fidei) của các tín hữu cũng như của cộng đoàn Dân Chúa[25]. Nhờ cảm thức đức tin, người tín hữu có khả năng phân định tất cả mọi sự theo nhãn giới đức tin: đức tin trở thành như là một thứ “bản năng” hoặc cảm nghiệm về Thiên Chúa (iudicium, cognitio per connaturalitatem)[26]

c) Tiếp cận huyền bí

Theo thánh Tôma, đức tin được thông dự vào sự hiểu biết của Thiên Chúa, vì thế là khởi đầu cho phúc kiến, khi con người được hiểu biết Chúa tường tận. Hành trình đức tin hướng đến đích điểm ấy (GLCG 163-165). Đức tin mang chiều kích cánh chung (x. Dt 11,1). Khi còn trên đường lữ hành, đôi khi linh hồn được phúc cảm nghiệm sự gần gũi với Chúa qua sự chiêm niệm hoặc xuất thần.

Vài nhà huyền bí bên Đông Phương cũng thêm rằng tiến trình này đòi hỏi một sự thanh luyện, không những khỏi những hình ảnh khả giác về Thiên Chúa mà kể cả những ý niệm “loại suy” về Ngài. Thiên Chúa vượt lên trên mọi lối hình dung của trí tuệ con người. Đó là nguồn gốc của thần học “tiêu cực” (theologia negativa) hoặc “vô ngôn” (apophatica).

Cũng trong chiều hướng này mà thánh Gioan Thánh Giá diễn tả học thuyết về “đêm tối đức tin”. Như trên đã nói, đức tin là “ánh sáng” soi đường cho lý trí, nhưng nhìn dưới lăng kính của sự thanh luyện, thì ở giai đoạn này đức tin trở thành đêm tối (“đêm tối đức tin”), tuy rằng đó là “đêm tối sáng rực” hoặc “ánh sáng tối hù”, những thuật ngữ tương phản gặp thấy nơi nhiều nhà huyền bí (Grêgôriô Nyssa, Điônysiô Areopagita, Nicolas Cusanô).[27]

Kết luận


Như đã nói ở đầu, đức tin bao trùm toàn thể lãnh vực thần học, nhưng trong bài này chúng ta chỉ giới hạn vào một điểm: “những suy tư thần học về đức tin”. Chúng ta có thể so sánh với Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo. Toàn thể cuốn sách nói về đức tin: tuyên xưng đức tin, cử hành đức tin, sống đức tin, cầu nguyện. Tuy nhiên sách GLCG dành ra nhiều đoạn để bàn về đức tin, rải rác trong nhiều phần: 1/ Trong phần Mạc khải, dài nhất (số 142-175). 2/ Trong phần luân lý, khi nói về các nhân đức nói chung (số 1814-1816) và những tội trái nghịch với đức tin khi nói đến điều răn thứ nhất (số 2087-2089). 3. Đức tin và các bí tích (số 1122-1126), đức tin và sự cầu nguyện (số 2656; 2715; 2716).

Một cách nào đó, có thể nói rằng bài này chú ý đến “đức tin chủ thể” (fides subiectiva, fides qua creditur), còn toàn bộ thần học thì nghiên cứu “đức tin khách thể” (fides obiectiva, fides quae creditur, doctrina fidei). Hai khía cạnh liên hệ mật thiết và bổ túc cho nhau.

Để kết thúc, chúng ta cũng có thể thêm rằng: nhìn dưới một phương diện thì đức tin là một trong bảy nhân đức; dưới một phương diện khác, đức tin là “tất cả” (một cách tương tự như là “đức ái là tất cả”). Có lúc thánh Phaolô đã đồng hóa Kitô giáo với “đức tin” (1 Tm 4,1.6), và người Kitô hữu là “người tin” (2Tx 1,10).

Thư tịch


1. Từ điển


O. Becker - O. Michel, “Fede” in: C. Coenen (cura), Dizionario dei concetti biblici del Nuovo Testamento, EDB Bologna, p. 619-637.

J. Duplacy, “Fede” in: Xavier Leon Dufour (dir.), Dizionario di Teologia Biblica, Marietti Torino 1971, col.380-385.

B. Marconcini, “Fede” in: P. Rossano (cura), Nuovo Dizionario di Teologia Biblica, Paoline Cinisello Balsamo 1988, p.536-552.

G. Langevin, “Fe” in: R. atourelle - R. Fisichella (dir.), Diccionario de Teologia Fundamental, Paulinas Madrid 1992, p.472-479.

M. Seckler, “Fe”, in H. Fries (dir), Conceptos Fundamentales de la Teología, Cristiandad, Madrid, 1967, tomo II, p.128-152

M. Seckler - C. Berchtold, “Fede” in: P. Eicher (cura), Enciclopedia Teologica, Queriniana, Brescia, 1989, p.355-368.

J. Alfaro, “Fede”, in: Sacramentum Mundi III, Brescia, Queriniana, 1974, 729-750.

G. Bof, “Fede” in: G. Barbaglio - S. Dianich (cura), Nuovo Dizionario di Teologia, Paoline Roma 1979, p.508-531.

A. De Sutter - M. Caprioli, “Fede” in: E. Ancilli (cura), Dizionario enciclopedico di spiritualità, Citta Nuova Roma 1990, 990-998.

2. Sách


J. Truetsch - J. Pfammatter, “La fe”, in Mysterium salutis. Manual de Teologia como Historia de la salvacion, Volumen I, Tomo II, Cristiandad Madrid 1969, p.877-993.

H. Fries, Teologia fondamentale, Queriniana Brescia 1987.

H. Waldenfels, Teologia fondamentale, Paoline Cinisello Balsamo 1988.

_______

[1] Trong tiếng Latinh, ngoài danh từ fides (và những từ cùng gốc fidelis, fidelitas) còn có động từ credere (và những từ ngữ cùng gốc: credibilis, credibilitas). Một cách tương tự như vậy tiếng Pháp có danh từ foi và động từ croire (từ đó: croyance), thêm vào những từ gốc Latinh: crédibilité, fidèle, fidélité. - Trong tiếng Anh, danh từ là faith (với các từ ngữ liên hệ: faithful, faithfulness), còn hành vi được gọi là to believe (từ đó có: belief, believer); ngoài ra còn có những từ gốc Latinh: credit, credentials, fidelity. Trong tiếng Việt, “tin” hoặc “tín” cũng được ghép với nhiều từ khác: tin tưởng, tin cậy, tín ngưỡng, tín thác, trung tín, tín nhiệm, v.v..
_________
[2] J. Duplacy, “Fede” in: Xavier Leon Dufour (dir.), Dizionario di Teologia Biblica, Marietti Torino 1971, col.380-385.
[3] Thật ra, batak được chuyển sang tiếng Hy-lạp là elpìs, elpìzo, pèpoitha (và sang tiếng Latinh Vulgata là spes, sperare, confido); còn ʾaman là pìstis, pistúein, alétheia (Latinh: fides, credere, veritas). Trong Tân ước danh từ pistis xuất hiện 243 lần và động từ pisteúein 241 lần
[4] Về ý nghĩa đoạn văn này, xem thông điệp Spe salvi của đức thánh cha Bênêđictô XVI, số 7.
[5] M. Seckler - C. Berchtold, “Fede”, Enciclopedia Teologica , Brescia 1989, 359.
[6] Sermo 43, 7, 9; Epist, 120, 1, 3.
[7] De Trinitate, l. XV, c. 2, n. 2.
_ “Ego vero evangelio non crederem, nisi me catholicae ecclesiae commoveret auctoritas” Contra. epistolam quam vocant fundamenti, 5,6.
[9] De Trinitate, l. XIII,2.
[10] In Io., 4, lect. 5.
[11] Công đồng Vaticanô I định nghĩa đức tin như là : “một nhân đức đối thần, nhờ đó cùng với ơn soi sáng và giúp đỡ của Chúa mà ta tin thật những điều Chúa đã mạc khải không phải vì lý trí tự nhiên đã nhận ra sự thật nội tại của sự vật, nhưng vì uy thế của chính Thiên Chúa mạc khải là Đấng không thể lầm lẫn cũng không thể lừa dối ai” (“qua, Dei aspirante et adiuvante gratia, ab eo revelata vera esse credimus, non propter intrinsecam rerum veritatem naturali rationis lumine perspectam, sed propter auctoritatem ipsius Dei revelantis, qui nec falli nec fallere potest” (Constitutio Dei Filius: Dz-Sch 3008)
[12] Hiến chế về Mạc khải số 5: Phải bày tỏ sự vâng phục bằng đức tin đối với Thiên Chúa mạc khải (Rm 1,5; 2Cr 10,5-6). Nhờ sự vâng phục đó, con người phó thác toàn thân cho Thiên Chúa một cách tự do “dâng lên Thiên Chúa mạc khải sự quy phục hoàn toàn của lý trí và ý chí” (Vaticanô I), đồng thời sẵn lòng chấp nhận mạc khải mà Ngài ban cho.
[13] Các sách giáo khoa phân biệt bốn chặng: 1/ nhận thức về sự khả tín, credibilitas (tin là điều hợp lý); 2/ nhận thức về việc cần phải tin, credenditas (cần phải tin); 3/ ý chí quyết định tin (tôi muốn tin); 4/ lý trí đồng tình (tôi tin).
[14] Về điểm này, không thể bỏ qua thông điệp Fides et ratio của đức thánh cha Gioan Phaolô II.
[15] x. Ủy ban Thần học quốc tế, Thần học ngày nay. Viễn cảnh, nguyên lý và tiêu chuẩn (2011), số 16-19.
[16] “Credere est actus intellectus assentientis veritati divinae ex imperio voluntatis a Deo motae per gratiam” (Summa Theologica II-II, q.2, a.9c).
[17] Từ arete xuất hiện bốn lần trong Tân ước: một lần nơi thánh Phaolo (Pl 4,8) và ba lần nơi thánh Phero (1Pr 2,9; 2Pr 1,3.5).
[18] Augustinus, Enarr. in Ps 77,8; Tract. in ev. Io. 29,6; Enarr. in Ps.130,1.
[19] Thomas Aquinas, Summa Theologica II-II, q.2, a.2. Nên lưu ý là trong tiếng Anh, credere Deo được dịch là “to believe in God”, vì thế khi dịch credere in Deum, người ta phải tạo ra thuật ngữ mới “to believe unto God”. Khía cạnh “đối thoại, gặp gỡ” của đức tin đã được tái khám phá nhờ tác phẩm của Jean Mouroux, Je crois en toi. La rencontre avec le Dieu vivant, Cerf Paris 1954, 2 éd (xuất bản lần đầu năm 1948).
[20] “Chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga 4,16).
[21] Xem Hiến chế tín lý về Mạc khải số 5, được Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo lặp lại ở số 143.
[22] Ở đây “vô” có nghĩa là không, chứ không phải là gia nhập (đi vô).
[23] James W. Fowler, Stages of Faith: The Psychology of Human Development and the Quest for Meaning. Harper Collins, San Francisco, 1981.
[24] Summa Theologica, II-II, qq. 8-9.
[25] x. GLCG số 91-93.99; 250; 785; 889; 904.
[26] Summa Theologica, II-II, q.45, a.2.
[27] x. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh, tập IV (Chiều kích huyền bí trong các tôn giáo), trang 341.
Read More